Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Bạch Đằng giang phú” (“Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu) – văn lớp 10

Soạn bài: “Bạch Đằng giang phú” (“Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Bạch Đằng giang phú” (“Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu) – văn lớp 10

ve dep song bach dang cua truong han sieu
Soạn bài: “Bạch Đằng giang phú” (“Phú sông Bạch Đằng” – Trương Hán Siêu) – văn lớp 10

Câu 1: Nêu vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử và đề tài Bạch Đằng giang trong văn học. Nêu bố cục bài “Phú sông Bạch Đằng” và tìm hiểu một số từ khó, điển tích, điển cố trong bài.

Gợi ý trả lời:

–  Trong lịch sử, chiến thắng Bạch Đằng là chiến thắng quan trọng trong sự nghiệp giữ gìn nền hào bình của dân tộc Việt. Sông Bạch Đằng là một nhánh của sông Kinh Thầy đổ ra biển, nằm giữa vùng Quảng Ninh và Hải Phòng. Tại nơi đây, Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán, bắt sống Hoằng Thao. Năm 1288, nhà Trần đã tiêu diệt giặc Nguyên – Mông, bắt sống Ô Mã Nhi. Đây là chiến thắng vẻ vang ghi dấu ấn trong lịch sử dân tộc.

–  Từ chiến thắng ấy, Bạch Đằng giang (sông Bạch Đằng) đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các tác giả mọi thời đại viết nên những áng văn thơ tuyệt tác, tiêu biểu có thể kể đến bài “Bạch Đằng giang” của Trần Minh Tông, “Bạch Đằng giang” của Nguyễn Sường, “Bạch Đằng hải khẩu” của Nguyễn Trãi, “Hậu Bạch Đằng giang phú” của Nguyễn Mộng Tuân…

–  Bố cục thông thường của một bài phú gồm có bốn đoạn: đoạn mở đầu, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết thúc.  Bố cục của bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu cũng có bố cục của một bài phú nói chung được chia thành 4 đoạn:

+  Đoạn 1: từ “Khách có kẻ” đến “luống còn lưu”

Ý chính: Đoạn thơ giới thiệu về nhân vật “khách” và thể hiện tráng trí, cảm xúc của ông.

+  Đoạn 2: từ “Bên sông các bô lão” đến “chừ lệ chan”

Ý chính: Đoạn thơ kể về cuộc gặp gỡ bên sông và câu chuyện của các bô lão.

+  Đoạn 3: từ “Rồi vừa đi” đến “lưu danh”

Ý chính: Đoạn thơ miêu tả lại cuộc trò chuyện và lời bình luận của các bô lão.

+  Đoạn 4: phần còn lại

Ý chính: Đoạn thơ là lời kết, lời bình luận của nhân vật “khách”.

–  Một số từ khó, điển tích, điển cố trong bài cần nắm rõ là: Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Đầm Vân Mộng, Tử Trường, Hợp Phì, Xích Bích…

 

Câu 2: Nhận xét về nhân vật “khách” trong đoạn mở đầu bài phú. Mục đích dạo chơi thiên nhiên, chiến địa của “khách” là gì ? Đặc điểm địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc và đặc điểm địa danh của đất Việt có gì giống và khác nhau ? Qua những địa danh ấy, “khách” là người có tráng trí (chí lớn) và có tâm hồn như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

Trong đoạn mở đầu bài phú, nhân vật “khách” được nhắc tới nhưng không rõ danh tính, vì vậy có nhiều cách hiểu về nhân vật này:

–  Thứ nhất, nhân vật “khách” có thể là chính tác giả. Ông là một nhà Nho, một viên tướng của triều đình cũng là một nhà thơ. Tuy tuổi đã già nhưng “tráng trí vẫn còn tha thiết” nên ông đã học người xưa đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh, mở rộng hiểu biết, nuôi dưỡng tinh thần và sống cuộc đời tự do tự tại. Qua sự xuất hiện của các hình ảnh được liệt kê về những không gian rộng lớn, thời gian liên hoàn và ngữ điệu trang trọng qua các từ “chừ”. Các từ ngữ và hình ảnh đó đã góp phần nhấn mạnh cách ngắt nhịp trong các câu từ: “Giương buồm giong gió chơi vơi” đến “Tam Ngô, Bách Việt”.

–  Ngoài ra, ta có thể hiểu nhân vật “khách” là người du lãng có phẩm chất của một tráng sĩ phóng khoáng, mạnh mẽ, đồng thời cũng là một “tao nhân mặc khách” ham thích du ngoạn, muốn đi nhiều, lại biết rộng, làm bạn với gió trăng đi qua nhiều miền sông bể. Nhân vật “khách” tuy có tính chất công thức theo quan điểm của những nho sĩ sáng tác thể phú nhưng với ngòi bút tài hoa của mình, Trương Hán Siêu đã thổi hồn vào một nhân vật hư ảo và biến thành một nhân vật sinh động, có sức sống và cảm nhận chân thực. “Khách” dường như chính là cái tôi phân thân của tác giả. Vì thế, nhân vật này là sự phản chiếu của một con người mang tính cách tráng sĩ với tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng ngợi ca đối với lịch sử đất nước.

–  Nhân vật “khách” trong bài phú đã tìm đến những địa danh lịch sử, đặc biệt là Bạch Đằng giang, để ngợi ca khung cảnh đẹp vô cùng của non sông đất nước và gợi nhiều suy ngẫm trong lòng người đọc.

–  Đặc điểm địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc và đặc điểm địa danh của đất Việt có điểm khác nhau và giống nhau là:

+  Các địa danh đều được liệt kê nhằm thể hiện cái tráng chí bốn phương của nhân vật “khách”, nhân vật trữ tình cũng chính là phân thân nội tâm của tác giả. Chí lớn của nhân vật được gợi lên qua những địa danh mà “khách” đã “đi qua”.

+  Ở đây có hai loại địa danh, một là loại địa danh được lấy trong điển cố Trung Quốc (Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt…) và hai là loại địa danh của Đất Việt (cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng…). Trong đó, loại địa danh thứ nhất thể hiện tinh thần tráng chí bốn phương của nhân vật còn loại địa danh thứ hai mang tính cụ thể hơn, gần với thời đương đại và được khắc họa nhằm thể hiện tình yêu quê hương đất nước và tâm hồn yêu quý, trân trọng đối với cảnh trí non sông.

 

Câu 3: Cảm xúc của “khách” trước khung cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng có phải là phấn khởi, tự hào không ? Hay là buồn thương, tiếc nuối vì những giá trị đang lùi vào quá khứ ? Hãy lí giải cách lựa chọn của anh (chị).

Gợi ý trả lời:

Trước hình ảnh dòng sông Bạch Đằng sinh động với những từ ngữ miêu tả chân thực, hình thức so sánh gợi cảm gợi tả: “bát ngát sóng kình môn dặm”, “thướt tha đuôi trĩ một màu” với “nước trời…” “Phong cảnh…” “bờ lau..”, “bến lách”,… nhân vật “khách” không chỉ có tâm trạng phấn khởi, tự hào trước cảnh non sông đất nước tươi đẹp mà còn có nỗi buồn lẫn lộn. Nhân vật cảm thấy vui và tự hào trước lịch sử oai hùng của dân tộc nhưng cũng không khỏi buồn thương, tiếc nuối vì xót xa cho oan linh của những anh hùng đã khuất. Đây là một nỗi buồn đau chan chứa tình cảm cao đẹp và đậm chất nhân văn. Điều đó được thể hiện qua giọng văn khơi gợi nỗi buồn sầu man mác, bâng khuâng nhưng cũng đầy tự hào.

 

Câu 4: Vai trò của hình tượng các bô lão trong bài phú là gì ? Chiến tích trên sông Bạch Đằng đã được gợi lên như thế nào qua lời kể của các bô lão ? Thái độ, giọng điệu của họ khi kể chuyện ra sao ?

Gợi ý trả lời:

–  Vai trò của hình tượng các bô lão trong bài phú là: tới đoạn thứ hai của bài phú, nhân vật các bô lão là hình ảnh vừa đại diện cho tập thể, lại vừa đại diện cho nhân vật địa phương. Họ vừa là chứng nhân của lịch sử nhưng đồng thời cũng là một phần sự phân thân của tác giả. Chính việc tạo ra nhân vật các bô lão đã trở thành những nhân vật chính có tính chất lịch đại, từ đó có được sự đối lập tự nhiên với nhân vật “khách” của thời đại sau này để dựng lên những trận thuỷ chiến Bạch Đằng rất sống động,chân thực chính nhờ lời kể của các bô lão.

–  Ngôn từ kể chuyện của các bô lão trong tác phẩm vừa sống động, vừa chân thực lại mang sắc thái trang trọng, lời lẽ ngợi ca gợi lên cảm hứng lịch sử với âm điệu hào hùng, vang vọng đến đời sau. Những kì tích trên sông được tái hiện qua việc sử dụng biện pháp nghệ thuật liệt kê sự kiện tạo sự trùng điệp. Thêm vào đó là các hình ảnh đối lập nhau góp phần tái hiện khí thế bừng bừng của trận chiến với thế giằng co quyết liệt giữa địch và ta. Những hình ảnh và điển tích được sử dụng một cách chọn lọc, phù hợp với sự thật lịch sử (Xích Bích, Hợp Phì, gieo roi,…) Điều đó đã góp phán diễn tả tài đức của vua, tôi nhà Trần và chiến thắng Bạch Đằng như một bài thơ tự sự đậm chấí hùng ca.

–  Qua cách kể chuyện ấy, thái độ và giọng điệu tự hào của các bô lão đã góp phần tô đậm tính chất cuộc chiến đầy hào hùng của dân tộc. Đây là chiến trận từ thời Ngô Quyền đến thời Trần Hưng Đạo mang khí thế non sông hào hùng nhưng trọng tâm của cuộc trò chuyện là chiến thắng “buổi trùng hưng”… với trận thuỷ chiến ác liệt, dòng sông nổi sóng “Muôn đội thuyền bè tinh kì phấp phới”, khí thế “hùng hổ”, “sáng chói”. Tái hiện khung cảnh khói lửa mù trời, tiếng gươm khuya, tiếng quân reo khiến cho hào khí quân đội ta trở nên lấn át không gian xung quanh: “Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ / Bầu trời đất chừ sắp đổi”. Trận đánh mang tính chất “kinh thiên động địa” được tái hiện bằng những nét vẽ khoa trương thần tình. Âm thanh, màu sắc, trực cảm và sự hồi tưởng được tác giả vận dụng phối hợp góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi của dân tộc.

–  Trong đoạn kết phần thứ nhất, tác giả lặp lại từ “chừ” trong đôi câu: “Đến sông đây chừ hổ mặt / Nhớ người chừ lệ chan”. Đây vẫn là lời các bô lão nhưng dường như trong đó có giọng của nhân vật “khách” hưởng ứng theo cảm xúc tự hào ấy của người xưa. Niềm hoài niệm của các bô lão gặp niềm sững sờ hòa lẫn tình cảm nuối tiếc của cả các bô lão và nhân vật “khách” tạo nên sự cộng hưởng của cái “tôi” tác giả.

 

Câu 5: Lời ca nào của các vị bô lão và lời ca nối tiếp nào của“khách” nhằm khẳng định điều đó ?

Gợi ý trả lời:

Lời ca của các vị bô lão và lời ca nối tiếp của nhân vật “khách” trong đoạn thứ 3 của bài phú chứa nhiều suy ngẫm và đã khẳng định tư tưởng của nhà thơ về chiến thắng Bạch Đằng có tính triết lí. Lời ca của các bô lão mang âm hưởng anh hùng của dòng sông sử thi, dòng sông cuộc đời, trải nhiều thế hệ anh hùng tạo âm điệu tha thiết chảy trong đêm. Một chân lí vĩnh cửu cũng đã lưu lại dấu ấn trong lòng nhiều thế hệ như dòng sông chảy bất tận: bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thì lưu danh thiên cổ. Lời nối tiếp của “khách” có ý nghĩa tổng kết, vừa ca ngợi công đức của hai vị vua anh minh đã chỉ đạo quân dân chiến thắng kẻ thù, vừa bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở, yếu tố được nhấn mạnh, nêu cao là “Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”. Đó là tư tưởng nhân văn hết sức cao đẹp của dân tộc ta.

 

Câu 6: Phát biểu về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài phú.

Gợi ý trả lời:

Về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài phú được nêu rõ trong phần kiến thức tổng kết về tác phẩm trong sách giáo khoa:

–  Giá trị nội dung của bài phú là: Bài “Phú sông Bạch Đằng” thông qua việc tái hiện lại không khí chiến thắng hùng tráng của những trận đánh trên sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đổng thời cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc tác giả đề cao vai trò, vị trí con người

–  Giá trị nghệ thuật của bài phú là: Bài phú sử dụng nhiều hình ảnh, điển tích có chọn lọc, kết hợp chữ tình là sự sáng tạo hình tượng nhân vật “khách” và nhân vật “các bô lão”, một nhân vật đại diện cho hiện tại và một nhân vật là chứng nhân lịch sử, đồng thời trong mỗi nhàn vật đểu có sự phân thân của cái tôi tác giả, một cái tôi tráng sĩ có tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử, với đất nước. Bài “Phú sông Bạch Đằng” đã trở thành đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong nền văn học Việt Nam thời trung đại.

Loading...

Incoming search terms:

  • soạn bài phú sông bạch đằng
  • Soạn bài phú sông bach dang
  • soạn văn phú sông bạch đằng
  • soạn văn 10 bài phú sông bạch đằng
  • soạn phú sông bạch đằng
  • bố cục và nội dung từng phần bài phú sông bạch đằng
  • soạn bài văn phú sông bạch đằng
  • soan phu song bach dang ngu van 10
  • soạn văn 10 bài bạch đằng giang phú
  • soan van 10 phú sông bạch đằng