Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Ca dao hài hước” – văn lớp 10

Soạn bài: “Ca dao hài hước” – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Ca dao hài hước” – văn lớp 10

ca-dao-tuc-ngu
Soạn bài: “Ca dao hài hước” – văn lớp 10

Câu 1: Tìm hiểu tiếng cười tự trào (tự cười mình) trong bài 1.

Gợi ý trả lời:

–  Bài ca dao là lời đối đáp vui đùa của nam nữ ở chặng hát cưới trong dân ca đã đem đến cho người đọc, người nghe tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Bài ca dao được chia thành lời của chàng trai và của cô gái đối đáp nhau: chàng trai nói về việc dẫn cưới của mình, còn cô gái nói về việc thách cưới. Ở đây, cả chàng trai và cô gái đều là những người lao động trong cảnh nghèo và việc cưới hỏi là sự kiện mang ý nghĩa hệ trọng trong cuộc đời của họ, nhất là đối với người con gái. Tuy nghèo khó, nhưng vì coi trọng lễ cưới, yêu quý người bạn trăm năm, nên chàng trai đã nói lên những dự định rất sang trọng trong lễ cưới rồi tìm cớ rất hợp lý để gạt bỏ dự định đó. Cách nói này vừa cho cô gái và chàng trai thể hiện được nỗi lòng của mình rất coi trọng ngày cưới nhưng cũng vì hoàn cảnh mà không được như ý nguyện, từ đó nhận được sự cảm thông, sẻ chia và tiếng cười đến từ hình thức nói quá đầy ý nhị của chàng:

Cưới nàng, anh toan dẫn voi,
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Cái hóm hĩnh, đáng yêu trong câu đối đầy phô trương này của chàng trai lại được mọi người chấp nhận mà không bị phê phán là hão huyền, nói dóc cũng chính bởi cách nói ý nhị đầy trí tuệ của chàng khi tìm được những cái cớ rất hợp lý: dẫn voi – sợ quốc cấm; dẫn trâu – sợ họ máu hàn; dẫn bò – sợ họ co gân; tránh nói trực tiếp nguyên nhân không thực hiện được những điều ấy là bởi chàng còn nghèo quá. Phẩm chất của chàng trai được thể hiện ở tính cách chu đáo và biết cách ứng xử, nói khéo cho thuận lòng nhà gái.

–  Chàng trai đã dùng hình ảnh liên tưởng các loài thú 4 chân từ lớn đến nhỏ: voi – trâu – bò để rồi cuối cùng mới nói ra vật dẫn cưới của mình mang tới là loài vật vô cùng nhỏ bé:

 “Miễn là có thú bốn chân,
Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng.

Cách nói của chàng trai thật thú vị, pha chút tinh nghịch, đùa giỡn khi lấy một con chuột mời cả dân cả làng với cái cớ rất logic, rất hợp lý là: chuột cũng là thú bốn chân như voi, trâu, bò; lại là “con chuột béo” như được nuôi dưỡng chờ ngày làm vật dẫn cưới vật. Chi tiết này có điểm đáng chú ý bởi nó thật đáng yêu, tạo ra tiếng cười thấu hiểu, thông cảm của người khác đối với hoàn cảnh được bộc lộ trong lời dẫn cưới của chàng trai nghèo và cũng làm bật lên tiếng cười tự trào hồn nhiên, vô tư khi người lao động không mặc cảm với cảnh nghèo, mà trái lại, luôn tìm cách khuây khỏa nỗi lòng, vui thú với cảnh nghèo của mình.

–  Trước lời dẫn cưới ấy, cô gái cũng tìm được cách đối đáp rất đáng yêu, ý nhị để trả lời người yêu bằng lời thách cưới của mình:

Chàng dẫn thế, lấy làm sang.
Nỡ nào em lại phá ngang như là
Người ta thách lợn, thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang.

Câu đáp lại đã bộc lộ hai nét đẹp trong tâm hồn cô gái ẩn chứa trong lời chấp nhận việc dẫn cưới của chàng trai và trong lời thách cưới của mình.

–  Thứ nhất, cô không chỉ chấp nhận mà còn “lấy làm sang” hàm ý đề cao vật dẫn của chàng trai cho dù vật dẫn cưới chỉ là một con chuột béo. Điều đó chứng tỏ rằng cô thấu hiểu thông cảm và sẵn sàng chấp nhận hoàn cảnh của chàng trai cùng cảnh nghèo như nhau, cô không nề hà gia cảnh của chàng trai vì cô quan trọng tấm lòng của chàng hơn là sính lễ, tiền bạc.

–  Thứ hai, phẩm chất tốt đẹp của cô còn được thể hiện qua lời thách cưới hài hước, dí dỏm nhưng đầy ý nghĩa thực tế: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Đặt vật thách cưới là khoai lang trong sự đối lập với thách lợn, thách gà càng thể hiện rõ nét đẹp trong phẩm chất và tình cảm của người con gái. Đây không chỉ là lời thách cưới vô tư, thuần khiết mà còn là biểu hiện của một tâm hồn lạc quan yêu đời, chứa đựng triết lí trong cuộc sống của người lao động – không mặc cảm mà còn tìm thấy niềm vui trong cảnh nghèo và nhất là luôn giữ được cuộc sống vui thú điền viên của mình. Lời thách cưới toát lên sự đáng yêu, đáng trân trọng của tâm hồn người lao động. Và cái dí dỏm, đáng yêu, trong sáng còn được tô đậm hơn khi cô hát tiếp về dự định của mình với những vật thách cưới đó: “Củ to thì để mời làng… Để cho con lợn con gà nó ăn…”

Câu 2: Tìm hiểu tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội trong bài 2, 3, 4.

Gợi ý trả lời:

–  Khác với tiếng cười trong bài 1là tiếng cười tự trào trong sáng, dí dỏm, yêu đời của người lao động nghèo tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị, tiếng cười trong bài ca dao 2, 3 ,4 là tiếng cười châm biếm có ý nghĩa phê phán xã hội. Tuy nhiên, đây không phải là tiếng cười đả kích, lên án mạnh mẽ giai cấp thống trị mà là tiếng cười răn dạy, nhắc nhở trong nội bộ nhân dân, phê phán những thói hư tật xấu mà người dân lao động vẫn còn mắc phải. Ở đây, tác giả dân gian đã đùng hình thức của ca dao để tạo ra tiếng cười phê phán nhẹ nhàng những chàng trai chưa xứng đáng với vị thế của mình là nam nhi gánh vác cuộc đời và những cô gái đã vô duyên lại mắc tính tiểu thư, đỏng đảnh… Qua đó, bài ca dao đưa ra bài học nhắc nhở ta phải làm người cho xứng đáng với vai trò và trách nhiệm của mình với một thái độ châm biếm nhẹ nhàng, thân tình, mang tính giáo dục và sâu sắc:

+  Bài 2 là lời chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai.

+  Bài 3 là lời châm biếm loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Hai bài ca dao là hai bức tranh cụ thể, sinh động lại mang tính khái quát cao, điển hình cho hai kiểu đàn ông đáng phê phán trong gia đình. Nếu ở bài 2, tiếng cười bật ra nhờ nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập, thì ở bài 3, vẫn sử dụng thủ pháp đối lập giữa “chồng người” và “chồng em”, tác giả dân gian đã bắt lấy đúng thần thái nhân vật trong chi tiết: “ngồi bếp sờ đuôi con mèo”. Hình ảnh người đàn ông lười nhác, ăn bám vợ, không có ý chí, chỉ biết lẩn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm của một người đàn ông, hiện lên vừa buồn cười lại vừa có chút thảm hại, mang tính hài hước và ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

+  Bài 4 là lời giễu nhại kiểu phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên, không có ý tứ. Đây là một bức tranh hư cấu tài tình của dân gian, có những chi tiết có thể có trong đời thường, rất thực tế, gắn với cuộc sống sinh hoạt ngày và đêm của người lao động như: ngáy o o; hay ăn quà, cũng có những chi tiết không thể có, được nói quá lên nhằm tạo tiếng cười hài hước, chấm biếm như: lỗ mũi mười tám gánh lông; trên đầu những rác cùng rơm. Điểm chung của các hình ảnh dù là hư cấu hoàn toàn hay tái hiện một phần hiện thực này là tất cả đều được phóng đại bằng trí tưởng tượng phong phú của người dân. Bài ca dao hài hước này trước hết là để mua vui, giải trí, nhưng đằng sau những tiếng cười sảng khoái đó vẫn ngầm chứa một ý nghĩa châm biếm nhẹ nhàng đối với kiểu phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên không phải không có trong xã hội. Thế nhưng, tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, cảm thông, qua cách nhìn đầy yêu thương của người chồng vì tình yêu với vợ nên tất cả tật xấu của nhân vật đều được so sánh một cách dí dỏm để biến hóa thành hình ảnh đẹp đẽ: lông mũi – râu rồng trời cho; ngáy o o – cho vui nhà; ăn quà – đỡ cơm; rác rơm – hoa thơm.

Câu 3: Những biện pháp nghệ thuật ca dao hài hước thường sử dụng là gì?

Gợi ý trả lời:

Những biện pháp nghệ thuật ca dao hài hước thường sử dụng là:

–  Nghệ thuật xây dựng hình ảnh hư cấu, tưởng tượng tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao nhưng mang đậm chất gần gũi, gắn bó với người lao động.
–  Nghệ thuật cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.
–  Nghệ thuật sử dụng hình ảnh hài hước, chi tiết hàm chứa ý nghĩa, từ nhiều nghĩa.
–  Nghệ thuật đối xứng, ví von đầy ý nhị tạo thành lời nói hóm hỉnh, châm biếm nhẹ nhàng.

Loading...

Incoming search terms:

  • soan bai ca dao hai huoc
  • soạn bài ca dao hài hước lớp 10
  • soan ca dao hai huoc van 10
  • Soạn bài ca dao hài hước
  • soạn văn lớp 10 bài ca dao hài hước
  • soạn ca dao hài hước
  • soan van ca dao hai huoc
  • soan văn bài ca dao hài hước
  • soạn văn bài ca dao hài hước lớp 10
  • ca dao Hài hước