Home / Soạn văn 10 / Soan bài: “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” – văn lớp 10

Soan bài: “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” – văn lớp 10

Loading...

Soan bài: “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” – văn lớp 10

ca dao than than yeu thuong tinh nghia
Soan bài: “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” – văn lớp 10

Câu 1: Bài 1,2

a/  Cả hai lời than thân đều mở đầu bằng cụm từ: “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ thế nào?

b/  Thân phận của họ tuy có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn ra bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau như thế nào?

Gợi ý trả lời:

a/  Cả hai lời than thân đều mở đầu bằng cụm từ: “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là người con gái chưa có chồng và thân phận của họ chỉ là những người dân bình thường, chịu nhiều nỗi khổ đau, bất hạnh trong xã hội. Cho nên trong câu ca dao này, họ thể hiện nỗi niềm của một thân phận nổi nênh, lận đận, không biết tương lai sẽ ra sao và càng không có khả năng tự định đoạt tương lai của mình. Họ chỉ có thể chờ đợi sự may rủi của số phận, phụ thuộc vào người khác (biết vào tay ai), cũng như cầu mong sẽ có người thấu hiểu cho phẩm chất tốt đẹp bên trong họ (ngọt bùi) trước khi phán xét họ căn cứ vào vẻ bề ngoài khốn khổ, xấu xí (như củ ấu gai).

b/  Thân phận của họ tuy có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn ra bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau là:

–  Trong câu 1:

“Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

Đôi câu lục bát có ý nghĩa biểu thị nỗi niềm cô đơn, lạc lõng của người con gái đẹp cả người lẫn nết (được ví như tấm lụa đào, vẻ ngoài đẹp đẽ, cao quý, bên trong chất liệu mềm mại, đáng trân trọng) nhưng lại có số phận nổi nênh, không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào và cuộc đời mình sẽ đi về đâu. Câu ca dao cũng thể hiện nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng bị đem ra để mua bán, đổi chác. Đặt từ láy “phất phơ” lên đầu câu 8 chữ, tác giả dân gian muốn nhấn mạnh và thể hiện tấm lòng cảm thương đối với sự chông chênh, vô định của thân phận người phụ nữ bị coi thường, dù có vẻ ngoài và phẩm chất tốt đẹp cũng không được coi trọng. Nét đẹp của người con gái trong câu ca dao này toát lên từ hình ảnh so sánh đầy vẻ sang trọng, cao quý, kiêu kì của tấm lụa đào.

– Trong bài 2:

“Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Câu ca dao thể hiện nỗi đau khổ trước số phận của người con gái lại trong hoàn cảnh không được đánh giá qua vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất, tài năng mà bị phán xét, chê bai chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí, giản đơn, bình dị như củ ấu. Sự trái ngược giữa hình thức bên ngoài với nội dung bên trong: “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” vừa đề cao, nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong của người con gái, vừa thể hiện sự đối lập của một tâm hồn trong sáng bị che lấp bởi vỏ bọc của người bình thường, đôi khi còn không đẹp đẽ. Nét đẹp của cô gái trong bài ca dao này chủ yếu được tô đậm là vẻ đẹp nội tâm, vẻ đẹp phẩm chất ẩn chứa bên trong.

 

Câu 2: Bài 3

a/  Chủ đề bài ca này là gì? Đây là lời của chàng trai hay cô gái? Nội dung bài ca dao là gì?

b/  Hãy chỉ ra tác dụng của đại từ phiếm chỉ “ai” trong câu ca dao.

c/  Nội dung của câu ca dao được thể hiện qua các hình ảnh so sánh, ẩn dụ như thế nào?

d/  Phân tích câu cuối bài ca dao: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”.

Gợi ý trả lời:

a/  Chủ đề bài ca dao này có sự khác biệt so với hai bài trên. Thật khó khác định lời ca ở đây là lời của chàng trai hay cô gái nhưng ta có thể khẳng định đó là lời tâm sự, lời than thở của một người lỡ duyên nhưng vẫn thủy chung, đầy tình nghĩa.

b/  Trong câu ca dao có xuất hiện đại từ “ai” là đại từ phiếm chỉ, chỉ chung tất cả mọi người. Trong bài ca dao này, đại từ “ai” chỉ người trong mối tình duyên  bị cha mẹ chia cắt vì quan niệm nhân duyên do cha mẹ quyết định, con cái không được tự định đoạt. Ở đây, từ “ai” gợi ra sự trách móc, hờn giận duyên phận của hai người không được như ý nguyện cũng như xót xa trước tình yêu bị chia rẽ bởi quan niệm của người xưa, nghe đầy bi thương, cảm động đến tận đáy lòng.

c/  Dù bị lỡ duyên nhưng nhân vật trong câu ca dao vẫn giữ tình nghĩa bền vững thủy chung. Điều đó không những được khẳng định qua các cặp hình ảnh ẩn dụ: Sao Hôm – sao Mai, mặt Trăng – mặt Trời để chỉ hai người vừa đôi phải lứa; mà còn được thể hiện qua hình ảnh so sánh: “Ta như sao Vượt” kết hợp với biện pháp nhân hóa: “chờ trăng giữa trời” với ngụ ý nói tình duyên tuy không thành nhưng lòng người vẫn đơn phương chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp lại nhau. Trong câu ca dao nổi bật là các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ như: sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, mặt Trăng, mặt Trời là những sự vật thiên nhiên gắn bó với cuộc sống lao động và sinh hoạt của những chàng trai, cô gái nông thôn hàng ngày thường phải đi sớm, về khuya, một nắng, hai sương nhưng đầy thân mật, gần gũi. Chính vì thế nên những hình ảnh này dễ đi vào liên tưởng, suy nghĩ, cảm xúc của họ và cũng là hình ảnh tượng trưng thể hiện rõ ràng nhất vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm chân thành, sâu sắc của họ. Các hình ảnh thiên nhiên ấy đều có vẻ đẹp riêng và trở thành nơi gửi gắm tâm tình, ngụ ý yêu thương, bộc lộ cảm xúc trong tâm hồn của họ.

d/  Ý nghĩa của câu cuối bài ca dao: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” đã nhấn mạnh tình cảm thiết tha mong đợi của người nói dù không đến được với người yêu nhưng cũng không vì thế mà trách cứ người mình yêu, trái lại một lòng chờ đợi người kia. Tuy “mình” không còn nhớ đến “ta” nhưng “ta” vẫn chờ đợi tình yêu của “mình” không bao giờ quên, giống như sao Vượt cứ đứng giữa trời chờ đợi trăng lên dù không được ở gần nhưng được ngắm nhìn từ xa cũng đủ lấp đầy nỗi cô đơn, trống trải trong lòng.

–  Vẻ đẹp của câu ca dao được thể hiện rõ nét hơn trong hình ảnh “sao Vượt chờ trăng”, cũng chính là hình ảnh mang tính chất liên tưởng độc đáo: chàng trai thấy sao Vượt (tức sao Hôm) thường mọc từ khi trời chưa tối và khi trời mới tối thì đã thấy sao sáng trên đỉnh trời rồi. Vì thê có nơi gọi sao Hôm là sao Vượt với nghĩa là vượt lên trên các vì sao khác. Bài ca dao đã lấy nhưng hình ảnh về trăng sao và chuyện tình duyên tưởng tượng giữ trăng với sao đế nói chuyện tình yêu đôi lứa của con người như vậy tạo nên một cách nói rất duyên dáng, tế nhị và mới mẻ. Vẻ đẹp của câu ca dao còn được thể hiện trong tình cảm thủy chung của một tâm hồn cao thượng, một tấm lòng son sắt trong tình yêu dẫu là đơn phương và bị ngăn cách.

 

Câu 3: Bài 4

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao là gì và chúng có tác dụng ra sao ?

Gợi ý trả lời:

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng của chúng là:

–  Biện pháp ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai… ” – “Chiếc khăn” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi lòng thương nhớ của nhân vật; “Đèn thương nhớ ai…” – “Đèn” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi; “Mắt thương nhớ ai…” – “Mắt” là hình ảnh hoán dụ cho hoàn cảnh thao thức hàng đêm vì thương nhớ.

–  Biện pháp điệp ngữ, điệp từ: Các từ “thương”, “nhớ” được lặp lại nhiều lần có tác dụng nhấn mạnh vào nỗi nhớ thương da diết, triền miên không dứt. Các từ “khăn”, “đèn”, “mắt” cũng được lặp lại nhiều lần với dụng ý tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng ngưòi đọc. Mô hình cấu trúc câu: “Khăn thương nhớ ai / Khăn rơi xuống đất / Khăn thương nhớ ai / Khăn vắt lên vai…” cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm cảm xúc, khắc họa hình ảnh liên quan đến niềm thương nhớ.

–  Các câu hỏi tu từ được sử dụng dày đặc trong bài ca dao: “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai – Mà đèn chẳng tắt?… Mắt thương nhớ ai – Mà mắt không yên?…”. Tác dụng của những câu hỏi tu từ nối tiếp nhau làm cho tình cảm nhớ nhung được láy đi láy lại, tái hiện một tâm trạng bồn chồn không yên vì thương nhớ, trằn trọc đêm ngày vì chờ mong.

–  Cách xây dựng các câu thơ ngắn gọn gồm 4 tiếng tạo nên hình thức văn bản có tác dụng như diễn tả sự thôi thúc, tâm trạng bồn chồn không yên của nhân vật. Cấu trúc câu thay đổi đột ngột từ câu 4 chữ thành cặp câu lục bát tạo thành sự phối hợp đặc biệt làm nổi bật sắc thái tình cảm ẩn chứa trong bài ca dao.

 

Câu 4: Bài 5

Chiếc cầu – dải yếm là một mô-típ nghệ thuật chỉ có trong ca dao để nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Phân tích vẻ đẹp độc đáo của mô-típ nghệ thuật về hình ảnh chiếc cầu – dải yếm.

Gợi ý trả lời:

–  Mô-tip là  khuôn, dạng, kiểu hình ảnh, hình tượng hay nhân vật nào đó đã xuất hiện trong nhiều văn bản khác nhau thành một kiểu chung. Thuật ngữ này nhằm chỉ những tổ hợp, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững, được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian.

–  Chiếc cầu là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng cho sự nối liền khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

–  Dải yếm là hình ảnh tượng trưng cho người con gái đẹp, tượng trưng cho tình cảm thiết tha mặn nồng, cho sự trao gửi niềm tin và tình yêu của người con gái.

–  Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh kết hợp độc đáo trong ca dao nhằm thể hiện khát vọng tình cảm mãnh liệt của người con trai và người con gái sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại để đến với nhau. Người con gái chấp thuận trao gửi cuộc đời mình cho chàng trai và dù hình ảnh cây cầu bằng dải yếm có sự mỏng manh, mềm mại nhưng lại rất phù hợp với ý nói tế nhị, ngụ ý chấp nhận tình cảm của chàng trai trao tặng người con gái.

 

Câu 5: Bài 6

Gợi ý trả lời:

–  Khi nói đến tình nghĩa thủy chung, sắt son, ca dao Việt Nam thường dùng hình ảnh muối và gừng bởi hai vật này có những nét đặc trưng giống với cảm giác trong nội tâm của con ngưòi. Gừng là loại củ có vị cay và thường để lại dư vị ấm nồng khi nuốt, không giống như các loại quả có vị cay như ớt, quế… có dư vị hăng nồng, cay nóng quá mức. Còn muối là một loại hạt gia vị có vị mặn lúc đầu nhưng sau sẽ để lại dư vị ngọt ngọt dễ chịu. Đây là cả hai loại gia vị rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, và chúng đều mang đặc điểm chung là có dư vị dễ nhớ, dễ đi vào lòng người. Chính đặc điểm đó đã biến chúng thành sự vật thích hợp để ví von với tình cảm mặn mà, có trước có sau, sâu đậm nồng nàn của con người.

–  Ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao được thể hiện rất rõ nét qua việc đặt từ “muối”, “gừng” ở đầu câu kết hợp với phép điệp từ, điệp cấu trúc:

“Muối ba năm muối đang còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta tình nặng nghĩa dày

Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”

Muối mặn, gừng cay là hình ảnh thực tế mang ý nghĩa biểu trưng cho nghĩa tình mặn nồng của đôi lứa. Số từ kết hợp với từ chỉ thời gian: “ba năm”, “chín tháng” biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu. “Ba vạn sáu ngàn ngày” cũng tương đương với 100 năm là biểu trưng cho suốt cuộc đời, cho tình cảm tồn tại vĩnh hằng. Những yếu tố đó kết hợp với nhau đã tạo nên một bài ca dao gợi cảm cho tình yêu đôi lứa thiết tha mặn nồng và lời hứa hẹn thề nguyện của đôi lứa thời xưa.

– Những câu ca dao tương tự có thể gặp trong ca dao là:

“Tay bưng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

Muối càng mặn, gừng càng cay

Đôi ta tình nặng nghĩa dày em ơi!”

 

Câu 6. Những biện pháp nghệ thuật nào thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết?

Gợi ý trả lời:

–  Qua các bài ca dao vừa phân tích, ta có thể thấy các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao là: Biện pháp so sánh (trong các bài 1, 2, 3), biện pháp ẩn dụ (bài 2, 3, 4, 5, 6), biện pháp hoán dụ (bài 4), biện pháp nói quá (bài 5, 6).

–  Những biện pháp nghệ thuật trong ca dao có nét riêng khác biệt so với nghệ thuật thơ trong văn học viết là: Lấy những sự vật cụ thể, gần gũi với đời sống của người lao động vừa để tạo thành những hình ảnh so sánh, ẩn dụ độc đáo, gợi cảm, vừa dùng để gọi tên, để trò chuyện tâm tình với con người như: nhện, sao, mận, đào, vườn hồng, cái đó, con sông, chiếc cầu, chiếc khăn, cái đèn, đôi mắt…Trong khi đó, thơ ca bác học trong văn học viết sử dụng nhiều hình ảnh trang trọng hơn, uyên bác hơn tạo nên sự khác biệt giữa một bên là văn học dân gian đậm chất giản đơn, bình dị, gần gũi với người lao động và một bên là văn học viết mang tính chất bác học.

Loading...

Incoming search terms:

  • soạn bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
  • ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
  • soan van 10 bài ca dao than than yeu thuong tinh nghia
  • soạn ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
  • ca dao than thân yêu thương tình nghĩa lớp 10
  • soạn văn lớp 10 bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
  • soạn ngữ văn 10 ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
  • soan bai ca dao than than
  • soạn bài ca dao than thân yêu thương tình nghĩa ngắn gọn
  • soạn ngữ văn 10 bài cau ca dao thưeơng