Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Hoàng Hạc Lâu” (“Lầu Hoàng Hạc” – Thôi Hiệu) – văn lớp 10

Soạn bài: “Hoàng Hạc Lâu” (“Lầu Hoàng Hạc” – Thôi Hiệu) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Hoàng Hạc Lâu” (“Lầu Hoàng Hạc” – Thôi Hiệu) – văn lớp 10

hoanghaclau
Soạn bài: “Hoàng Hạc Lâu” (“Lầu Hoàng Hạc” – Thôi HIệu) – văn lớp 10

Câu 1: Nhan đề của bài thơ là “Lầu Hoàng Hạc” nhưng ngoài sự xác định vị trí của lầu Hoàng Hạc ở “nơi đây”, toàn bài không nói gì về “lầu” cả. Vậy dụng ý của tác giả là gì?

Gợi ý trả lời:

Nhan đề của bài thơ là “Lầu Hoàng Hạc” nhưng ngoài sự xác định vị trí của lầu Hoàng Hạc ở “nơi đây”, toàn bài không nói gì về “lầu” cả. Vậy dụng ý của tác giả trong bài thơ là:

–  Bốn câu thơ đầu là những câu đi sát đề về khung cảnh lầu Hoàng Hạc, đề cập trực tiếp tới lầu Hoàng Hạc:

“Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.”

(Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay)

Nhà thơ có dụng ý khi ở hai câu thơ đầu, ông vừa giải thích tên lầu, vừa xác định hoàn cảnh có tên gọi đó của lầu trong thời gian xa xưa, song hoàn toàn lại không có đoạn nào miêu tả rõ về lầu cả. Ta chỉ thấy có sự đối lập giữa cảnh tiên và cõi tục, quá khứ và hiện tại, cái mất và cái còn trong bốn câu thơ này. Hình ảnh hạc vàng là đại diện cho cõi tiên, gắn với truyền thuyết thần kì trong quá khứ. Tất cả đều tái hiện lại cảnh tượng được miêu tả trong truyền thuyết Phí Văn Vi hay Tử An thời cổ đại xa xưa. Tác giả có dụng ý sử dụng truyền thuyết ấy để thể hiện những suy tư sâu lắng và đầy triết lí của mình. Thời gian một đi không trở lại, sự việc đã xảy ra cũng không thể làm lại và vì thế, người xưa đã đi rồi nay không thể thấy lại được nữa. Đời người là hữu hạn, vũ trụ là vô cùng, vô tận. Sau tất cả, cuối cùng chỉ còn lại căn lầu chơ vơ giữa làn mây trắng bồng bềnh. Hình ảnh đó khơi gợi cảm giác cô độc, lẻ loi của một thân phận tha hương, bấp bênh giữa cuộc đời.

–  Dụng ý thứ hai của Thôi Hiệu là tạo ra sự chuyển biến tiếp trong khung cảnh và sự việc từ quá khứ tới hiện tại giữa nội dung của bốn câu trên và bốn câu dưới. Đó là sự nối tiếp một cách kín đáo, logic và nhẹ nhàng đi vào lòng người đọc. Ta có thể tưởng tượng thấy hình ảnh đôi mắt ngước nhìn tầng mây lơ lửng, đem hồn thả theo nghìn năm xa xăm của truyền thuyết li kì nhưng tâm tư, tình cảm của nhà thơ rốt cuộc vẫn hướng về những gì đang xảy ra ở hiện tại, gần với quá khứ nhưng cũng rất xa.

–  Dụng ý thứ ba của nhà thơ là tạo ra mối tương quan liên kết giữa cái khả dĩ (cái có thể nhìn thấy) và cái bất khả dĩ (cái không thể nhìn thấy). Cái có thể thấy ở đây là vùng đất Hán Dương, bãi Anh Vũ cùng hàng cây bên đường, tất cả đều hiện lên rõ mồn một, tươỉ mơn mởn và đầy sống động. Cái không thấy ở đây là “hương quan”, nghĩa là vùng đất quê hương đang hút hồn người trong bài thơ này. Tình cảm trong bài thơ vừa chứa đựng một ý nghĩa triết lí, vừa chứa đựng ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

 

Câu 2: Tất cả cảnh đều đẹp nhưng sao lại “khiến người buồn” ?

Gợi ý trả lời:

Tất cả cảnh tượng hiện lên qua bài thơ đều rất đẹp, rất thơ mộng, huyền ảo nhưng vẻ đẹp ấy lại gợi ra một cảm giác mơ hồ, chất chứa tình cảm buồn li biệt, nỗi niềm hoài niệm về quá khứ.

–  Bốn câu thơ đầu tái hiện rõ thần thái của vẻ đẹp huyền thoại trong truyền thuyết của lầu Hoàng Hạc. Bốn câu thơ sau lại khắc họa vẻ đẹp hiện đại trong cảnh tượng chân thực của dòng sông, bãi cỏ, hàng cây. Cảnh càng đẹp thì càng “khiến người buồn”. Bài thơ hay và có ý vị sâu sắc là ở chỗ đó.

–  Nếu chỉ hiểu thơ của Thôi Hiệu là thơ tả chân, có ý nghĩa thù tạc, ngâm vịnh cảnh vật đơn thuần mà không hàm chứa nội dung cảm xúc hay ý nghĩa triết lí gì thì đã làm mất đi một nửa vẻ đẹp của bài thơ. Với Thôi Hiệu, thơ là để diễn tả sinh động tình cảm chân thành, những suy nghĩ sâu lắng chứ không phải chỉ là công cụ để tái hiện, tạc lại khung cảnh như một bức họa. Hơn thế nữa, nhà thơ đang sống trong tâm trạng của một kẻ tha hương xa xứ. Vì thế, dù cảnh trước mắt có đẹp tới đâu thì lòng thương nhớ quê hương vẫn cứ lấn át tất cả, tạo cảm giác nỗi nhớ dâng lên  vời vợi, nhất là khi màn đêm buông xuống.

 

Câu 3: Bài thơ có thể rút gọn thành một câu: “Người xưa đã đi không trở lại khiến người nay buồn” và một quan niệm: “Năm mươi sáu chữ đều là bước chuẩn bị cho chữ sầu đậu xuống, kết đọng trong tâm”. Anh (chị) đồng ý với ý kiến nào ?

Gợi ý trả lời:

Về bài thơ này, có hai quan niệm đánh giá khác nhau, đó là: “Người xưa đã đi không trở lại khiến người nay buồn” và: “Năm mươi sáu chữ đều là bước chuẩn bị cho chữ sầu đậu xuống, kết đọng trong tâm”. Theo tôi, cả hai nhận định trên đều có ý chung và là quan điểm hợp lý khi đánh giá bài thơ. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào nội dung của hai ý kiến đó thì có thể cho rằng ý kiến nói: “Năm mươi sáu thì cả năm mươi sáu chữ đều là bước chuẩn bị cho một chữ sầu kết đọng trong tâm” là sâu sắc hơn bởi cái hồn của bài thơ nằm ở những suy nghĩ chân thành mà sâu sắc, không đơn thuần gợi cảm giác buồn về thân phận con người hữu hạn, vô tận và sự biệt li không thể quay lại của người xưa. Ý kiến thứ nhất chỉ là bề nổi của nội dung bài thơ, khơi nguồn cho cảm nhận của người đọc về ý nghĩa thứ hai sâu kín hơn mà nhà thơ muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình. Nỗi sầu, nỗi buồn khi phải xa quê hương choán chiếm tất cả, lấn át nỗi buồn trước cảnh chia li và chuyện quá khứ. Người ta thường có nỗi buồn thương nhớ quê hương lúc chiều tà buông xuống. Vì vậy nên không chỉ trong tác phẩm này mà trong thơ ca cổ điển nhiều nước Phương Đông, chiều hôm nhớ nhà là tình huống xuất hiện rất phổ biến.

Loading...

Incoming search terms:

  • hoàng hạc lâu soạn văn
  • Soan bai lau hoang hac ngan nhat