Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

haong hac lau
Soạn bài: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (“Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” – Lí Bạch) – văn lớp 10

Câu 1: Xác lập mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ. Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn ?

Gợi ý trả lời:

Mối quan hệ giữa không gian – thời gian – con người trong bài thơ có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện sự đồng nhất giữa tâm cảnh (tâm trạng con người) và ngoại cảnh (trạng thái cảnh vật). Lý Bạch tiễn người bạn tri kỉ của mình từ nơi thanh cao, thoát tục đến chốn phồn hoa đô hội, gửi gắm trong đó còn là sự lo lắng, niềm ngậm ngùi cho sự cô đơn của lòng mình.

–  Không gian ở đây không phải không gian ngẫu nhiên được miêu tả do cảm hứng của nhà thơ mà không gian này đã được nhà thơ chọn ở phía tây lầu Hoàng Hạc để miêu tả khung cảnh tiễn bạn. Theo quan niệm người Á Đông, phía tây là vùng đất tượng trung cho cõi Phật, cõi tiên. Sở dĩ như vậy là bởi Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ nằm ở phía Tây so với Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Vì thế, đối với các quốc gia có dân chúng theo đạo Phật, đặc biệt là Trung Quốc thì miền Tây là miền đất bình yên cho con người. Địa hình của Trung Quốc ở phía Tây cũng là vùng đất hoang sơ, nhiều núi cao, bí hiểm nên người xưa ít lui đến, chỉ dành riêng cho ẩn sĩ đến tu hành, lánh đời, tìm chốn bình yên. Phương Tây trở thành nơi ẩn nấp của những tâm hồn thanh cao, trong sạch, hướng về cõi an nhiên tự tại. Theo truyền thuyết còn lưu lại thì lầu Hoàng Hạc là nơi Phí Văn Vi đã tu luyện thành tiên rồi cưỡi hạc vàng bay đi. Trong lời thơ còn lưu lại:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay”

Chọn một khung cảnh thơ mộng lại đã từng là nơi có một truyền thuyết về người xưa thoát tục để đưa tiễn một người bạn tri âm trở về cuộc đời trần tục, nhà thơ có dụng ý cầu chúc cho bạn mình được có cuộc sống mới tốt đẹp. Dương Châu là nơi phồn hoa đô hội, là nơi buôn bán sầm uất, đông người qua lại. Sông Trường Giang, vì thế, trở thành địa điểm nổi bật giữa hai không gian: kẻ đi – người đến tấp nập. Đồng thời, đây cũng là dòng sông tượng trưng cho tâm tư nối liền giữa hai người: kẻ ở – người đi. Buổi tiễn đưa vì thế trở nên có ý nghĩa sâu sắc hơn.

–  Về thời gian, tác giả đã chọn thời gian mơ hồ, huyền ảo, góp phần tạo nên  một khung cảnh mang vẻ đẹp lãng mạn như chốn bồng lai tiên cảnh. Từ “hoa” ngoài chỉ sự vật thiên nhiên còn chỉ thời gian vào tháng ba có tiết xuân.

–  Về hình ảnh con người xuất hiện trong bài thơ có thể thấy qua hình ảnh một chiếc thuyền đang rẽ sóng, lướt trên những làn hoa khói đầy thơ mộng. Hình ảnh ấy gợi lên không khí mơ hồ lãng mạn của thơ Đường. Hơn nữa, Mạnh Hạo Nhiên xuôi dòng đến Dương Châu nơi phồn hoa đô hội. Một từ mà nói đến được nhiều đến thế. Mới thấy cái hay của thơ Đưòng ở “ý tại ngôn ngoại”. Hai tiếng “Cố nhân” ở đầu câu thơ được dịch là bạn, tuy đúng nhưng chưa trọn vẹn ý nghĩa của câu thơ. Bởi lẽ, “cố nhân” là người bạn gắn bó, thân thiết từ xưa, trải qua một thời gian gắn kết lâu dài và tình cảm đã trải qua nhiều sóng gió, cho dù thời gian có thể điểm những đốm bạc trên mái tóc. Buổi chia tay nhờ có hai tiếng “cố nhân” ấy mà càng thêm quyến luyến trong sự thiết tha. Hơn nữa, Lý Bạch không sử dụng cách miêu tả cuộc chia li thường tình mà là giây phút biệt li không có những li rượu tiễn nhau, không dòng nước mắt, không lời nói tạ từ. Tất cả lưu lại trong tâm trí nhà thơ và bạn tri kỉ chỉ có khung cảnh lầu Hoàng Hạc, chỉ có dòng sông với bầu trời. Khung cảnh hiện lên đượm buồn nhưng nó cũng chính là hình ảnh biểu trưng cho tình cảm sâu sắc của nhà thơ với bạn. Ngoại cảnh và tâm cảnh có sự giao hòa với nhau. Vì thế, ta có thể thấy rằng cuộc chia tay giữa Lý Bạch với “cố nhân” chính là cuộc chia tay với chốn đi về của lòng mình, với nơi mà ông đã gắn bó từ rất lâu.

 

Câu 2: Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” của “cố nhân” ?

Gợi ý trả lời:

Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” của “cố nhân” bởi đó là hình ảnh biểu trưng cho nỗi cô đơn của tác giả và tấm lòng luôn hướng về người bạn thân tình của ông. Hình ảnh cánh buồm lẻ loi ấy không chỉ là hình ảnh của thực tại mà đã trở thành hình ảnh được khắc họa qua tâm hồn nhà thơ. Tác giả đã nhìn hình ảnh cánh buồm rõ nét nhất không chỉ bởi đó là thuyền của “cố nhân” mà còn bởi tác giả có nỗi cô đơn ẩn chứa trong lòng mình cũng như nỗi buồn li biệt của Mạnh Hạo Nhiên. Đây là hình ảnh đồng điệu giữa ngoại cảnh và tâm cảnh để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả.

 

Câu 3: Em có cảm nhận như thế nào về tâm tình của thi nhân gửi gắm qua bài thơ ?

Gợi ý trả lời:

– Tâm tình của thi nhân đặc biệt được thể hiện rõ trong câu thơ cuối của bài thơ: “Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời”. Câu thơ chỉ có ý khơi gợi mà không miêu tả rõ nét khung cảnh. Bằng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, trước mắt nhà thơ, trong ánh nhìn đượm nỗi buồn li biệt. Nỗi lòng chan chứa nỗi buồn khiến cho con sông như cao dần lên, hoà nhập làm một với trời xanh. Cảnh vật hiện ra trước mắt nhà thơ theo dòng tâm trạng chia li đầy lưu luyến.

–  Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc, chân thành của hai nhà thơ thời thịnh Đường qua các hình ảnh mơ hồ, như thực như mộng hòa quyện với nhau. Bạn đã đi xa, cánh buồm chỉ còn là “nền ảnh” thấp thoáng như hư, như thực. Tiếp theo đó là một dòng sông chảy vào cõi trời – một khoảng không xanh biếc, rợn ngợp. Tất cả những hình ảnh ấy đều góp phần diễn tả cái nhìn dõi trông, sự dùng dằng, lưu luyến của kẻ ở – người đi. Tâm trạng của tác giả – người ở lại trở nên bàng hoàng, hẫng hụt. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy quý trọng hơn tình cảm bạn bè, tình thân hữu lâu bền là một tình cảm luôn tồn tại giữa người với người trong mọi thời đại, cần được lưu giữ và xây dựng bền chặt hơn.

Loading...

Incoming search terms:

  • soan bai bai tai lau hoang hac tien manh hao nhien di quang lang
  • soan bai của lí bạch lop 10
  • soạn bài hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi quảng lăng
  • soan bai tai lau hoang hac
  • soạn hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi quảng lăng
  • soạn tại lau hoàng hạc tien manh hao nhien di quang lang