Home / Soạn văn 11 / Soạn bài: “Lẽ ghét thương” (Nguyễn Đình Chiểu) – văn lớp 11

Soạn bài: “Lẽ ghét thương” (Nguyễn Đình Chiểu) – văn lớp 11

Loading...

Soạn bài: “Lẽ ghét thương” (Nguyễn Đình Chiểu) – văn lớp 11

66041_Luc-van-tie
Soạn bài: “Lẽ ghét thương” (Nguyễn Đình Chiểu) – văn lớp 11

Câu 1: Nhận xét về cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu.

Gợi ý trả lời:

Cơ sở của lẽ ghét thương theo quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu là:

–  Đoạn thơ có nhiều điển cố rút ra từ sử sách Trung Quốc. Đây là một trong những tính chất cơ bản của văn chương trung đại – tính ước lệ. Các điển tích thể hiện rất rõ sự ghét thương minh bạch của ông Quán với từng kiểu con người và từng triều đại.

+  Đời Kiệt, Trụ thì hoang dâm vô độ, rượu chè, trai gái đến mức tột cùng (vua Trụ lấy rượu chứa thành ao, lấy thịt treo thành rừng rồi cho bọn con trai, con gái thả sức ăn chơi, dâm dật, xem đó là thú vui).

+  Đời U, Lệ thì lắm đa đoan (U Vương say đắm Bao Tự Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé, bởi vậy mà để mua vui cho người đẹp, vua có thể sai người mỗi ngày xé hàng trăm tấm lụa. U Vương còn sai quân lính đốt lửa hiệu trên núi Li Sơn để quân các nước chư hầu tưởng có biến, tất tả kéo đến ứng cứu, mục đích chỉ cốt để làm cho Bao Tự bật cười).

+  Đời Ngũ bá, thúc quý thì lộn xộn, chia lìa, đổ nát, chiến tranh liên miên. Tất cả các triều đại được nhắc đến trong lời ông Quán đều có một điểm chung, đó là sự suy tàn. Những người đứng đầu nhà nước thì say đắm trong tửu sắc, không chăm lo đến đời sống của nhân dân.

– Phê phán các triều đại suy tàn, Nguyễn Đình Chiểu đã đứng trên lập trường nhân dân. Ở trong đoạn thơ trích này, mỗi cặp câu lục bát là một tiếng dân được nhắc đến. Tất cả những lời kết tội đều gần như xoay quanh một ý: vào các thời đại đó, chỉ có dân là phải gánh chịu mọi tai ách, khổ đau: “Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang”, “Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần”, “Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”, “Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”. Như vậy tác giá đã xuất phát từ quan điểm nhân dân mà phẩm bình lịch sử. Đó là cơ sớ của sự ghét, ghét sâu sắc, cay nghiệt đến tột cùng cảm xúc ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm can.

–  Đi liền ngay sau những câu thơ bày tỏ thái độ ghét là những câu thơ bày tỏ lẽ thương. Lẽ thương hướng đến những con người cụ thể như: đức thánh nhân, thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đổng Tử, người Nguyên Lượng, ỏng Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc. Đây đều là những người có tài, có đức và nhất là họ đều có chí muốn hành dạo giúp đời, giúp dân nhưng đều không đạt được sở nguyện của mình vì không được xã hội phong kiến chấp nhận (Khổng Tử lận đận “Khi nơi Tống Vệ, lúc Trần, lúc Khuông”, Nhan Uyên thì “dờ dang” chết sớm, Gia Cát Lượng thì “đã đành phui pha” vì không thể xoay chuyên nổi thời vận của nhà Hán, Đổng Trọng Thư chí lớn mà “không ngôi”, Nguyên Lượng phải “lui về cày”, Hàn Dũ thì bị “đày đi xa”, Liêm, Lạc bị “xua đuổi”). Bấy nhiêu con người đều có những nét đồng cảnh ít nhiều với chính Nguyễn Đình Chiếu. Bởi chính nhà thư cũng đã từng nuôi chí hành đạo giúp đời, lập ncn công danh sự nghiệp. Nhưng cuộc đời nhà thơ có quá nhiều bất hạnh, hơn nữa thời buổi nhiễu nhương khiến những người tài đức cũng phải lẩn tránh những nơi danh lợi Bởi thế, tình thương yêu đối với mỗi con người trong lịch sử ở đây cũng chính là niềm cảm thông sâu sắc tận đáy lòng Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu đã vì cuộc đời, vì sự bình an của nhân dân mà thương mà tiếc cho những tài năng không được trọng dụng, để đến nỗi đành phải “phui pha”.

 

Câu 2: Đoạn trích khá thành công trong việc sử dụng cặp từ đối nghĩa ghét – thương như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

Trong đoạn trích, từ “ghét” và “thương” được lặp lại theo cặp tới 12 lần, sắp đặt sóng đôi, đăng đối khá linh hoạt: hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương; ghét ghét – thương thương; lại ghét – lợi thương. Phép lặp cũng như sự vận dụng linh hoạt hai từ ghét – thương đã giúp biểu hiện nổi bật và phân minh hai tình cảm trong tâm hồn tác giả. Việc lặp lại hai từ này cũng làm tăng lên đáng kể cường độ của cảm xúc: yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng, đều hết sức nồng nhiệt. Trong trái tim của nhà thơ, ghét và thương rành rọt, không mập mờ, lẫn lộn và đều sâu nặng, không nhạt nhoà, chung chung.

 

Câu 3: Yêu và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít không thê tách rời trong tâm hồn của nhà thơ. Hãy chứng minh điều đó.

Gợi ý trả lời:

Yêu và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít không thê tách rời trong tâm hồn của nhà thơ bởi thương đến xót xa trước cảnh nhân dân phải chịu lầm than, khổ cực, thương những con người tài đức mà bị vùi dập, phải mai một tài năng, chí nguyện nên Nguyễn Đình Chiểu càng căm ghét sâu sắc những kẻ làm hại dân, hại đời, đẩy con người vào những cảnh ngộ éo le, oan nghiệt. Đoạn thơ mang tính chất triết lí đạo đức mà không hé khô khan, cứng nhắc, trái lại vẫn giàu chất trữ tinh và dạt dào cảm xúc. Những cảm xúc sâu sắc và nồng đượm đó xuất phát từ cõi tâm trong sáng, cao cả của nhà thư, từ một trái tim nặng trĩu tình đời, tình người tha thiết.

Trong trái tim yêu thương mênh mông của nhà thơ, hai tình cảm yêu, ghét cứ đan cài, nối tiếp nhau hoà cùng nhịp đập với cuộc đời, với nhân dân, bởi “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó chính là đỉnh cao lư tưởng và tình cảm của Nguyền Đình Chiêu vậy.

Loading...

Incoming search terms:

  • soạn bài lẽ ghét thương
  • soạn lẽ ghét thương
  • soan van 11 bai le ghet thuong