Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

phan-tich-bai-tho-nhan-nguyen-binh-khiem
Soạn bài: “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) – văn lớp 10

Câu 1: Cách dùng số từ, danh từ trong câu thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có gì đáng chú ý ? Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng tác giả như thế nào ?

Gợi ý trả lời:

–  Cách dùng số từ, danh từ trong câu thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có điểm đáng chú ý là:

+  Trong câu thơ thứ nhất, nhà thơ dùng số từ “mỗi” lặp lại ba lần một cách có chủ ý, kết hợp cùng với các danh từ đứng sau chỉ công cụ nông ngư là: mai, cuốc, cần câu tạo nên câu thơ có nhịp điệu đều đặn: “Một mai, một cuốc, một cần câu” (Một mai, / một cuốc, / một cần câu – nhịp 2 / 2 / 3). Trong câu thơ thứ hai, nhịp điệu thơ cũng có sự ngừng nghỉ giống như vậy: Thơ thẩn / dầu ai / vui thú nào ( nhịp 2/ 2 / 3)

+  Nhịp điệu trong hai câu thơ đầu thể hiện phong thái thong thả, ung dung, thoải mái của thi nhân trong cảnh sống giản dị, không xô bồ.

–  Hai câu thơ ấy cho ta hiểu rõ hơn về hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng tác giả trước cảnh sống ấy. Đôi câu thơ thể hiện quan niệm của thi nhân về cuộc sống “nhàn”. Đó không phải cuộc sống sung túc, giàu sang, nhiều tiền của tới mức không cần làm việc vẫn có thể sống nhàn nhã. Đối với thi nhân, cuộc sống ung dung trong những công việc hàng ngày, lúc lao động, khi vui thú điền viên, cuộc sống tuy nghèo nhưng thanh đạm mới thực sự là cuộc sống thanh nhàn và chan hoà cùng thiên nhiên. Ba chữ “một” được sử dụng trong một câu thơ đã cho thấy nhu cầu về cuộc sống của tác giả không cần những thứ cao sang mà chỉ cần những điều giản dị, dân dã. Từ đó, ta có thể thấy được thi nhân là một người ưa sự bình dị, bình thường mà thoải mái.

 

Câu 2: Anh (chị) hiểu thế nào là “nơi vắng vẻ”, “chốn lao xao” ? Quan niệm của tác giả về dại, khôn như thế nào? Tác dụng của nghệ thuật đối trong câu 3, 4?

Gợi ý trả lời:

 Theo hoàn cảnh được miêu tả trong bài thơ, ta có thể hiểu “nơi vắng vẻ”, “chốn lao xao” là những vùng đất có tính chất đối lập nhau: nơi ít người, nơi xôm tụ; nơi tĩnh lặng, nơi ồn ào; nơi bình yên, nơi xô bồ…

–  Trong bài thơ có sự mâu thuẫn so với quan niệm thông thường về quan niệm “dại”, “khôn”. Hai cụm từ: “ta dại” và “người khôn” khẳng định phương châm sống và cách nhìn nhận của tác giả về hai kiểu người trong xã hội. Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định rằng bản thân “dại” vì tìm “nơi vắng vẻ”, đối lập với người đời luôn chọn “chốn lao xao”. “Ta dại” không có nghĩa là ta ngu dại mà đây là cách nói khiêm nhường của tác giả theo cách nhìn nhận của người đời về việc chọn lẽ sống yên bình ẩn dật của ông. Tìm nơi “vắng vẻ” không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao, sống cuộc đời thanh bình, yên ổn. Trái lại, chạy theo “chốn lao xao” là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất đầy rẫy những cuộc chiến tranh giành, mưu mô hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi mới là lẽ sống nhàn thực sự. Người xưa có câu “Đại trí như ngu” nghĩa là người có trí tuệ lớn thường không khoe khoang, bề ngoài xem rất vụng về, dại dột. Vì vậy mà khi tác giả nói “ta dại” cũng chính là thể hiện cách nhìn đời rất am tường, thấu hiểu cái người đời muốn và cái mình cần của một nhà Nho ẩn dật.

–  Đây là cách nói theo quan niệm sống của người thường, đối lập với quan niệm của tác giả. Tác giả mượn lời nói, lối nói và lối nghĩ của người đời để diễn đạt quan niệm sống của mình, khẳng định lẽ sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Tạo sự đối lập giữa “nơi vắng vẻ” với “chốn lao xao” và sự đối ngược trong quan niệm “dại”, “khôn”, tác giả muốn khẳng định cách sông nhàn cư, ẩn dật, xa lánh chốn vinh hoa phù du mới là lẽ sống an yên hơn cả. Hai vế đối ấy đã tạo nên sự tương phản, từ đó làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.

 

Câu 3: Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu 5 và 6 có gì đáng chú ý? Hai câu thơ này cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào? Phân tích giá trị nghệ thuật của hai câu thơ này?

Gợi ý trả lời:

–  Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu 5 và 6 hết sức giản dị, đạm bạc mà vẫn đầy vẻ thanh cao, hướng người đọc tới lối sống hoà nhập cùng cỏ cây hoa lá, thiên nhiên.

–  “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Hai câu thơ này cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm không giàu sang, quyền quý nhưng vẫn rất thanh cao. Nhịp thơ của hai câu là nhịp 1 / 3 / 1 / 2. Nhịp một nhấn mạnh vào các mùa trong năm, ăn, tắm đều thích thú, mùa nào thức ấy. Cách sống nhàn của tác giả không tách rời mà hoà hợp với tự nhiên.

–  Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ này được thể hiện ở những hình ảnh hết sức bình dị, dân dã: măng, trúc, giá, hồ sen, ao. Tất cả vật phẩm này đều gần gũi với cuộc sống chốn quê đầy vẻ chất phác, tái hiện khung cảnh sinh hoạt rất đạm bạc mà vẫn thoải mái. Cho dù sinh hoạt ấy còn khổ cực, còn thiếu thốn nhưng đó là thú nhàn, là cuộc sống hoà nhịp với tự nhiên của con người. Từ trong cuộc sông nhàn ấy là toả sáng nhân cách. Cái thú của cảnh sống nhàn, sống ẩn dật mang tính triết lí của các Nho sĩ là ở điểm họ chấp nhận cuộc sống của một người dân nghèo để tìm được sự thanh thản, thoải mái trong tâm hồn. Trong thời loạn lạc, người hiền tài có nhân cách cao đẹp nếu không xa lánh cuộc tranh đua chốn quan trường bon chen tầm thường, tìm đến nơi yên tĩnh, vui thú cùng cỏ cây, vạn vật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống hoà mình với thiên nhiên, vũ trụ thì khó có thể giữ được cốt cách thanh cao, trong sạch của mình.

 

Câu 4: Với điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm ?

Gợi ý trả lời:

–  Với điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối là điển tích Thuần vu, ta có thể thấy hai câu cuối của bài thơ thể hiện quan niệm sống mang tính triết lí của tác giả: sống ẩn dật, xa lánh cuộc đời bon chen để giữ cho tâm hồn, cốt cách được trong sạch, không vướng bận với “phú quý” – tượng trưng cho sự giàu sang, nhà nho chỉ thấy “tựa chiêm bao” (như trong giấc mộng) nghĩa là có mà cũng như không, rất phù phiếm, không có gì quan trọng, không đáng lưu tâm.

–  Đây là triết lí của các nho sĩ ẩn dật muốn thoát khỏi chốn quan trường để giữu thân trong sạch. Họ nhìn thấy sự thịnh suy của vương triều là quy luật của vũ trụ, đất nước không thể tránh khỏi. Mỗi triều đại đều có lúc hưng thịnh, lúc suy vong. Nhà nho tài giỏi và có khả năng thấu hiểu được quy luật đó mới là người hiểu được ý Trời. Với họ, khi nào nên ra làm quan, dùng tài năng của mình phụng sự đất nước và khi nào nên về ở ẩn, giữ tấm lòng mình không bị vấy bẩn bởi ganh đua chốn quan trường, tất cả đều tuân theo “mệnh Trời”. Thực chất đó chính là quan niệm thuận theo ý tự nhiên, ý Trời ở đây được hiểu với tư cách là hình ảnh của quy luật tự nhiên và xã hội. Trong cả hai trường hợp, nhà nho chân chính đều tự phải ghi nhớ bản thân mình cần giữ gìn sự cao quý trong tâm hồn. Vì thế, họ phải giữ cho cốt cách thanh sạch, không bị thói đời làm hoen ố. Hai câu cuối của bài thơ đã cho thấy tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại diện cho tấm lòng của một kẻ sĩ thanh cao và trong sạch, có tài có đức, biết lo cho dân cho nước.

 

Câu 5: Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì? Quan niệm đó là tích cực hay tiêu cực?

Gợi ý trả lời:

–  Qua bài thơ, ta có thể hiểu được quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là đến với cuộc sống cách xa, lánh khỏi nơi bon chen danh lợi, tìm kiếm nơi yên tĩnh để bản thân được hoà hợp với thiên nhiên, nhờ thế mà giữ cho cốt cách nho sĩ của mình được trong sạch.

–  Quan niệm sống nhàn nói chung có mặt tích cực nhưng cũng có mặt tiêu cực trong thời đại bấy giờ:

+  Quan niệm đó tích cực bởi nó không ủng hộ những thế lực xấu và thói xấu trong xã hội, giúp cho người nho sĩ ở ẩn giữ cho cốt cách được trong sạch, thanh cao, không phải sống trái với lương tâm của mình.

+  Quan niệm này tiêu cực bởi hành động, cách sống ẩn dật là sự xa lánh, thoát li cuộc sống hiện thực, không cho bản thân cơ hội cải thiện xã hội, giúp đỡ nhân dân. Hiếm có người có thể như Nguyễn Bỉnh Khiêm, không vào chốn lao xao nhưng không phải là không băn khoăn, trăn trở trước nhân tình thế sự.

–  Vì vậy, cần phải hiểu lối sống nhàn ở đây là lối sống tích cực, thân nhàn nhưng tâm không nhàn, cũng như lối sống ẩn dật của nhiều nho sĩ bất đắc chí: Chu Văn An, Nguyễn Trãi…

Loading...

Incoming search terms:

  • soạn bài nhàn
  • soạn văn 10 bài nhàn
  • Cau hoi o bai nhan ngu van lop 10
  • soạn bài nhàn lớp 10
  • soạn văn 10 nhàn
  • soan van bai nhan lop 10
  • soan van lop 10 bai nhan
  • nhàn van lop 10
  • span bai nhan nguyen binh khoem
  • soạn nhàn văn 10