Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Thơ Hai-cư của Ba-sô” – văn lớp 10

Soạn bài: “Thơ Hai-cư của Ba-sô” – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Thơ Hai-cư của Ba-sô” – văn lớp 10

phan-tich-mot-vai-bai-tho-hai-cu-nhat-ban
Soạn bài: “Thơ Hai-cư của Ba-sô” – văn lớp 10

Câu 1: Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố Ê-đô và nỗi niềm hoài cảm về kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện như thế nào trong bài một và hai?

Gợi ý trả lời:

–  Bài một là nỗi niềm nhớ thương, tình cảm tha thiết hướng về thành phố Ê-đô (Ê-đô là Tô-ki-ô ngày nay). Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật hoán dụ, dùng thời gian mười mùa sương xa quê để chỉ mười năm đằng đẵng nhà thơ sống ở Ê-đô. Điểm đặc biệt ở đây là cảm xúc thương nhớ của nhà thơ được khơi gợi không phải từ cảm xúc mong ngóng được về quê hương của mình. Trái lại, cảm xúc này được khơi gợi từ hoàn cảnh có một lần trở về quê cha đất tổ, ông phải rời xa Ê-đô nhưng không thể nào quên được vùng đất này. Hình ảnh mười mùa sương gợi lên khung cảnh lạnh giá của vùng Ê-đô cùng những tháng năm nhà thơ chịu nhiều gian khổ ở vùng đất khách. Cũng qua hình ảnh biểu trưng đó, nhà thơ đã thể hiện nỗi lòng lạnh giá của kẻ xa quê. Mười năm gắn bó với nơi này, dù đó là đất khách cũng không thể không có tình cảm. Trong lời thơ Việt cũng từng có tác giả bộc lộ cảm xúc như vậy: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở /  Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Vì vậy, tới khi về quê, tác giả lại nhớ cảnh vật Ê-đô. Tình yêu quê hương trong bài thơ đã hòa làm một với tình yêu đất nước, khiến cho một vùng đất xa lạ lâu ngày cũng có thể trở thành quê hương thứ 2.

–  Trong bài hai, địa danh được nhắc tới là Ki-ô-tô, nơi Ba-sô sinh sống thời còn trẻ (1666 – 1672). Sau đó ông mới chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau, khi quay trở lại Ki-ô-tô và nghe tiếng chim đỗ quyên hót, ông đã có cảm hứng làm nên bài thơ này. Bài thơ là sự hoài cảm của tác giả được truyền tải qua tiếng chim đỗ quyên. Đây là loài chim báo hiệu màu hè với tiếng kêu nghe khắc khoải, da diết. Chính âm thanh ấy đã gọi lại kỉ niệm một thời tuổi trẻ sống dậy trong lòng nhà thơ. Đối với người trẻ, mùa hè là mùa của kỉ niệm, của những trò nghịch ngợm đùa vui thuở nhỏ. Chính vì thế, khi nghe tiếng loài chim báo hiệu mùa hè, cảm xúc dâng trào trong lòng thi nhân là tiếng lòng da diết gợi tuổi trẻ xen lẫn niềm vui nỗi buồn, đầy thương nhớ nhưng chỉ là hoài niệm mơ hồ về một thời xa xăm. Thơ Ba-sô đã gây ấn tượng bởi cảm xúc được gợi lại từ âm thanh đầy lãng mạn. Câu thơ cũng mang nhịp điệu êm dịu càng có khả năng khẳng định một cách thầm lặng nỗi nhớ, sự hoài cảm dâng lên trong lòng nhà thơ.

 

Câu 2: Tình cảm đối với mẹ và em bé bỏ rơi thể hiện như thế nào trong hai bài 3 và 4 ?

Gợi ý trả lời:

–  Trong bài 3, tác giả đã miêu tả hình ảnh một mớ tóc bạc là di vật còn lại của mẹ. Hành động cầm trên tay mà Ba-sô rưng rưng dòng lệ chảy đã thể hiện nỗi đau xót của ông khi mẹ đã mất. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ của hành động để thể hiện tâm trạng chứ không cần sử dụng ngôn ngữ nói. Nỗi lòng thương cảm xót xa của nhà thơ không chỉ là nỗi đau buồn khi mẹ không còn mà còn là nỗi nhớ nhưng da diết hình ảnh cuả mẹ khi tuổi đã cao, mái tóc đã bạc. Hình ảnh “làn sương thu” mơ hồ tạo nên không gian khơi gợi nỗi buồn trống trải trong lòng nhà thơ. Sự trống vắng cô liêu của tác giả chính là bởi ông nhớ tới công sinh thành, dưỡng dục chưa được báo đền của mẹ. Tình mẫu tử đã được thể hiện qua những câu thơ ngắn gọn, súc tích nhưng đầy cảm động.

–  Trong bài 4, người đọc đã bắt gặp một nỗi buồn nhân thế xuất phát từ tấm lòng nhân đạo của nhà thơ. Hoàn cảnh được tái hiện trong bài thơ là chuyện cha mẹ đẻ ra con nhưng không nuôi được vì nghèo đói mà đành mang bỏ đứa trẻ trong rừng sâu. Hiện thực không ít những cảnh đời như vậy và điều đó tạo nên một niềm cảm thương sâu sắc, trở thành cảm xúc dễ đi vào thơ ca, gợi lên biết bao nỗi buồn tê tái. Âm thanh được tác giả miêu tả không phải những tiếng chim chóc trong rừng mà là tiếng vượn hú. Tuy nhiên, âm thanh đó không hề rùng rợn mà trái lại, nghe “não nề” gan ruột, không chỉ khắc họa nỗi buồn mà còn thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông với nỗi đau nhân thế. Tiếng trẻ “than khóc” vì bị bỏ rơi không phải bộc lộ tình cảm hằn thù, hờn giận cha mẹ độc ác, vô tình mà là vì nỗi buồn cô quạnh và qua đó, ta có thể thấu hiểu được sự cảm thông của tác giả với hoàn cảnh của đôi vợ chồng cực chẳng đã, không nuôi nổi mới phải bỏ con. Nỗi buồn ấy tiếp tục được gửi gắm vào hình ảnh gió mua thu tái tê. Phép nhân hóa đã giúp cho tình cảm trong câu thơ được thể hiện chân thực và sinh động. Nhờ vậy mà nâng bổng giá trị của thơ Ba-sô tới đỉnh cao của chủ ngĩa nhân đạo. Điều đáng nói trong cái buồn ấy không đơn thuần mà chứa đựng nỗi đau đời, nỗi đau trước những số phận bất hạnh, khổ đau.

 

Câu 3: Qua bài 5, anh (chị) cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ ?

Gợi ý trả lời:

Qua bài 5, người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp về khát vọng trong tâm hồn nhà thơ. Nội dung bài thơ được miêu tả khá rõ nét là trong khung cảnh mưa giăng, một chú khỉ con thầm ước (khát vọng) có một chiếc áo tơi để che mưa. Hình ảnh mưa được tác giả mượn để nói về một hiện thực nào đó trong cuộc đời, chính là những năm tháng đói khổ, rét mướt hay những sóng gió của cuộc đời. Chú khỉ con là một loài vật nhỏ bé lại đơn độc như tượng trưng cho con người cô độc trước bất trắc cuộc đời. Chú khỉ con ấy là một sinh mạng một con người, một kiếp người và là con người chung trong cuộc đời. Chính vì thế, chú khỉ thầm ước có chiếc áo tơi che mưa che gió cũng chính là cảm xúc của nhân vật trữ tình mong mỏi làm thế nào để thoát khỏi cơn đói rét, khổ cực. Vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ được thể hiện trong những câu thơ lấp lánh giá trị nhân đạo thiết thực.

 

Câu 4: Mối tương giao giữa các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ được thể hiện như thế nào ở bài sáu và bài bảy ?

Gợi ý trả lời:

–  Ở bài sáu, chúng ta bắt gặp hình ảnh cánh hoa đào “lả tả” và hình ảnh mặt hồ gợn sóng nước của hồ Bi-wa. Hoa đào là loài hoa tượng trưng cho mùa xuân đặc trưng ở Nhật Bản. Vì thế, những cánh hoa lả tả rụng đã báo hiệu mùa xuân trôi qua trên vùng đất Nhật Bản. Đây là thời kì chuyển giao mùa trong năm. Từng cánh hoa nhỏ bé nhất, đơn sơ nhất, tưởng như không có sinh mệnh nhưng cũng vẫn mang trong mình mối tương quan giao hòa, quy luật chuyển hóa của vũ trụ. Một cánh hoa đào mỏng manh, nhỏ xíu cũng khiến mặt hồ Bi-wa nổi sóng, dù rất nhẹ nhưng cũng thể hiện sự tương tác giữa các sự vật trong thiên nhiên.

–  Đến bài bảy, ta bắt gặp một âm thanh nữa là “tiếng ve ngân”, đặc trưng của mùa hè. Sự liên tưởng chuyển giao giữa mùa này với mùa khác được hòa quyện với cái nhìn, sự cảm giao và lắng nghe âm thanh đọng lại trong không gian. Điều đó chứng tỏ nhà thơ có sự cảm nhận vô cùng tinh tế và sâu sắc. Hình ảnh thơ rất đẹp, rất dịu dàng: hoa đào, hồ Bi-wa và tiếng ve ngân không chỉ lan tỏa trong không gian mà còn thấm sâu vào đá, dạng vật chất biểu tượng cho tính cứng cỏi, vững chắc. Câu thơ đắm chìm trong cảm nhận sâu sắc, đắm trong cái tình của con người với thiên nhiên và tạo vật.

 

Câu 5: Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế nào trong bài 8 ?

Gợi ý trả lời:

Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện trong bài 8 qua những hình ảnh thơ rất sống động. Bản tính của nhà thơ Ba-sô là rất thích đi lãng du, đi nhiều nơi trên đất nước, ngắm nghía cảnh vật và cảm nhận không gian. Con người đã đến lúc sắp lìa đời, với niềm khát khao được du ngoạn đó đây thì còn có khát vọng gì hơn là được tiếp tực lãng du khi bản thân sắp gần đất xa trời. Ba-sô vẫn có trong mình khát vọng sống để đi tiếp cuộc du hành của mình. Khát vọng sống không phải để tiếp tục hưởng thụ mà là để thực hiện sở thích của mình, du hành trên đất nước. Qua ước muốn đó của nhà thơ, ta có thể thấy được tâm hồn Ba-sô vô cùng lạc quan, yêu đời, thiết tha sống. Bài thơ không chỉ nói lên tình yêu của nhà thơ đối với cuộc sống mà dường như đã nói lên sứ mệnh của thi nhân là tiếp tục khám phá thế giới tươi đẹp quanh mình bằng những cảm nhận hết sức tinh tế. Yêu đời, yêu người, yêu cái đẹp, Ba-sô như khẳng định rằng mình sẽ còn mãi làm thơ về cuộc đời này ngay cả khi thân xác không còn và linh hồn đã rời sang thế giới bên kia.

 

Câu 6: Tìm quý ngữ và cảm thức về cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền trong các bài thơ sáu, bảy và tám ?

Gợi ý trả lời:

Quý ngữ là các từ chỉ mùa được dùng trong bài thơ đã thể hiện cảm thức về cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền trong các bài thơ sáu, bảy và tám là:

+  Hoa đào lả tả: diễn tả khung cảnh cuối mùa xuân.

+  Tiếng ve ngân: diễn tả khung cảnh mùa hè.

Loading...

Incoming search terms:

  • Soạn thơ hai cư của Ba sô
  • soạn bài thơ hai cư của ba sô
  • soan tho hai cu cua baso
  • soạn bài thơ hai-cư của ba-sô
  • soạn văn 10 thơ hai cư của ba sô
  • soạn thơ hai-cư
  • soan van bai lop 10 tho hai cu cua ba so
  • soạn văn bài thơ hai-cư của ba-sô
  • soạn văn thơ hai cư ba sô
  • tac gia muon gui noi sau gi trong bai tho hai - cư của ba - sô