Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

images-1
Soạn bài: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích “Chinh phụ ngâm” – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) – văn lớp 10

Câu 1: Phân tích diễn biến tâm trạng của người chinh phụ và nghệ thuật khắc hoạ tâm trạng của tác giả (Những dấu hiệu cho thấy sự cô đơn; ngôn ngữ của người chinh phụ và giá trị biểu cảm của nó; các yếu tố ngoại cảnh có tương quan với tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yếu tố đó…).

Gợi ý trả lời:

Với nghệ thuật khắc họa tâm trạng chân thực, sinh động, diễn biến tâm trạng của người chinh phụ đã hiện lên rõ nét.

– Qua hai khổ thơ đầu, hình ảnh người chinh phụ được khắc họa là một người lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc. Dấu hiệu cho thấy sự cô đơn của người chinh phụ được thể hiện trong: sự lẻ loi trong căn phòng vắng, sự lẻ loi cả khi bước ra ngoài, sự lẻ loi ban ngày và sự lẻ loi, cô độc hơn cả là trong cảnh đêm khuya thanh vắng.

–  Trong đoạn trích, người chinh phụ hiện lên không phải qua lời nói bộc lộ cảm xúc lộ liễu mà thông qua những hành động, cử chỉ chậm rãi. Tác giả đã miêu tả hình ảnh người chinh phụ với trạng thái không yên, hết đứng lại ngồi. Bằng các động từ mạnh và cách tạo dựng khung cảnh đìu hiu, cô quạnh, nhà thơ đã vẽ lên dáng vẻ của người chinh phụ đang bồn chồn, lo lắng dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuộn lên (thác) nhiều lần. Đặc tả sự cô đơn này, hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng được nhấn mạnh nhằm thể hiện cảnh sống lẻ loi, đơn chiếc của nàng. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn” và “bóng người”.

“Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

–  Hai khổ thơ: khổ ba và khổ bốn tiếp tục khắc hoạ diễn biến tâm trạng của người chinh phụ qua khung cảnh. Tác giả xếp hai cảnh lẻ loi: ban đêm được miêu tả với âm thanh: “Gà eo óc gáy  sương năm trống” và ban ngày lại được miêu tả với hình ảnh: “Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên cạnh nhau nhằm gợi cảnh lẻ loi và nỗi thất vọng triền miên, dằng dặc. Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh thời gian và không gian với tâm trạng: “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một câu thơ đặt nỗi niềm chờ đợi mong mỏi trong sự so sánh với chiều dài thời gian và một câu thơ đặt nỗi buồn nhớ trong sự so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ Iáy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như kéo dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng, lan tỏa khắp không gian, kéo dài theo thời gian.

–  Tâm trạng của người chinh phụ tiếp tục được đẩy lên cao hơn với sự cố gắng trong tuyệt vọng. Khổ thơ thứ tư diễn tả sự gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi. Những hành động cố gắng khơi gợi lại hơi ấm người thương và tìm thú vui cho mình như: gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm” đều thất bại, khiến cho nước mắt cứ đầm đìa. Động từ “gượng” được đặt trong sự lặp lại tạo cảm giác thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

–  Khi bàn về khổ thơ thứ năm và khổ thơ thứ sáu, Đặng Thai Mai đã nhận xét những vần thơ: “mênh mông vô tận như khối sầu tựa ngàn xưa”. Trong đoạn thơ này, tác giả đã đặt nhân vật trữ tình trong không gian có ý nghĩa phóng dụ “gió đông”, “non yên”, “đường lên bằng trời”. Tứ thơ được vượt thoát ra khỏi căn phòng nhỏ hẹp, vươn ra không gian bát ngát, “thăm thẳm”. Giá trị biểu cảm của đoạn thơ tập trung ở những từ láy “đằng đẵng”, “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha”. Qua những từ ngữ miêu tả đó, nỗi nhớ không còn vô hình mà trở nên có hình khối, có chiều dài, độ cao, độ sâu, có sự mỏi héo mòn, có vời vợi mênh mang, có lo lắng day dứt và có chà xát, cắt cứa đến đau đớn. Đoạn thơ diễn tả trực tiếp nội tâm nhân vật trữ tình. Cách điệp vần, điệp liên hoàn cộng hưởng với không gian và tâm trạng tạo âm hưởng lan toả triền miên, không dứt, nỗi buồn như ôm trùm cả vũ trụ khôn cùng… Hai câu cuối đoạn miêu tả cảnh cành cây ướt đẫm sương đêm, tiếng côn trùng rên rỉ vang lên từ lòng đất. Người chinh phụ lọt sâu vào bóng đêm dày đặc. Cảnh sương tuyết gió mưa buốt giá đồng hành và đồng cảm với nỗi buốt giá lạnh lẽo của lòng người.

 

Câu 2: Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ ?

Gợi ý trả lời:

Trong đoạn trích, nỗi đau khổ tột cùng của người chinh phụ được diễn tả rất sâu sắc. Nỗi đau khổ ấy hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, đau khổ trải ra trong không gian và dằng dặc theo thời gian. Nàng nhìn đâu cũng chỉ thấy tình cảnh lẻ loi của bản thân mình. Nỗi lạnh lẽo buốt giá từ cõi lòng người chinh phụ đã trùm lên ngoại cảnh, len lỏi vào các sự vật,… khiến nàng thốt lên những lời sầu tủi bi thiết. Nỗi đau khổ của người chinh phụ có nhiều lí do mà có thể thấy được các nguyên nhân chính sau:

–  Thứ nhất, người chinh phụ đang sống trong cảnh cô đơn, lẻ loi khi chồng nàng đi chinh chiến nơi chiến địa sa trường đã mấy mùa xuân bặt vô âm tín. Người chinh phụ đã phải chờ đợi,chờ đợi và chờ đợi đến héo mòn tuổi xuân, có lúc gần như tuyệt vọng hoàn toàn. Người chinh phụ càng khao khát đoàn tụ, khao khát cuộc sống vợ chồng bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh tuyệt vọng bấy nhiêu. Đó là bi kịch đôi lứa chia lìa khiến người chinh phụ đau khổ, bất hạnh.

–  Thứ hai, nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ chính là cuộc chiến tranh phi nghĩa mà vì nó vợ chồng nàng phải xa nhau. Trong suy nghĩ của nàng, người chồng phải chịu cảnh sống vất vả, sống chết không định trước, “dãi thây trăm cho làm công một người” đã làm cho bao gia đình tan nát, bao tổ ấm trở nên lạnh lẽo. Bi kịch của người chinh phụ, vì thế là bi kịch có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa một cách mạnh mẽ, đồng thời qua đó cũng vang lên tiếng nói nhân đạo lớn lao của tác phẩm.

 

Câu 3: Xác định những câu thơ là lời nói của người chinh phụ và cho biết giá trị biểu đạt của nó

Gợi ý trả lời:

Những câu thơ là lời nói của người chinh phụ là:

–   Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

–  Lòng này gửi gió đông có tiện

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Giá trị biểu đạt của nó trong bài thơ là: Việc đưa những lời trực tiếp đó làm cho lời văn trở nên sinh động hơn, có hồn hơn và góp phần làm nổi bật bi kịch tinh thần do chính nàng bộc lộ cùng nhưng bất hạnh của người chinh phụ.

 

Câu 4: Đọc diễn cảm đoạn trích (có thể ngâm thơ nếu được). Hãy nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát và có sự so sánh với các thể thơ mà anh (chị) biết.

Gợi ý trả lời:

–  Thể thơ lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Sau này, thể thơ ấy đã được biến đổi thành thể song thất lục bát thường thấy trong văn học chữ Nôm và trở thành một trong các thể loại có nhiều thành tựu đỉnh cao của thời đại văn học này. Bản thân cách cấu tạo câu thơ và vần luật của nó cũng đã tạo nên một thứ nhạc điệu lên bổng xuống trầm một cách linh hoạt, có khả năng diễn tả tài tình những cung bậc khác nhau của tâm trạng con người, Phan Huy Thực cũng đã dịch Tì bà hành của Bạch Cư Dị sang thể thơ này. Nguyễn Du đã dùng thể thơ này để khóc cho “thập loại chúng sinh” trong “Vận chiêu hổn” và nhiều tác phẩm khác.

–  “Chinh phụ ngâm” là tác phẩm thuộc thể loại ngâm khúc, nghĩa là một khúc ngâm dài mà trong đó diễn tả mọi cung bậc của nỗi buồn triền miên ở người chinh phụ. Nguyên tác của Đặng Trần Côn được viết bằng chữ Hán, theo thể đoản trường cú là thể thơ có những câu thơ ngắn, dài xen kẽ với nhau. Sau này, dịch giả tài hoa Đoàn Thị Điểm, với một nỗi cảm thông kì lạ với nỗi lòng người chinh phụ,  đã dịch tác phẩm của Đặng Trần Côn sang bản chữ Nôm với thể thơ song thất lục bát vô cùng đắc địa cho việc thể hiện tâm trạng và cảm xúc của người chinh phụ cũng như nỗi niềm xót thương, đồng cảm của tác giả đối với nàng.

–  Nếu khúc ngâm được dịch bằng thể thơ khác thì chắc chắn hiệu quả biểu đạt sẽ không bằng thể song thất lục bát. Gần hơn cả với thể thơ này là thể thơ lục bát. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được viết bằng thể thơ này vì đó là một tiểu thuyết bằng thơ. Tuy nhiên, “Chinh phụ ngâm” là một khúc ngâm có tính “độc diễn” tâm trạng, lại có những câu thơ thể hiện sự cô đơn, lay lắt của con người trong nỗi sầu muộn. Nếu sử dụng thể thơ lục bát sẽ không tránh khỏi giọng đều đều bằng phẳng dù có câu ngắt nhịp khác nhau cũng không thể bằng sự xuất hiện của 2 câu 7 chữ xen kẽ với cặp câu 6 – 8. Thể song thất lục bát đã khắc phục được điều đó. Có thể nói, chính nội dung tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình và sự đồng cảm cao độ của người nghệ sĩ đã bắt gập thể thơ song thất lục bát như một định mệnh để rồi tất cả tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó có thể thơ nào có thể diễn tả được như thế.

–  Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” có giá trị lớn lao ngoài khả năng tạo dựng nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, kết hợp với giọng sầu thương bi thiết còn được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, khơi gợi tình cảnh lẻ loi. Bên cạnh đó, các từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo nên giọng điệu sầu bi ấy.

Loading...

Incoming search terms:

  • soạn bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ