Home / Soạn văn 10 / Soạn bài: “Trao duyên” (Trích “Đoạn trường tân thanh” – “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) – văn lớp 10

Soạn bài: “Trao duyên” (Trích “Đoạn trường tân thanh” – “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) – văn lớp 10

Loading...

Soạn bài: “Trao duyên” (Trích “Đoạn trường tân thanh” – “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) – văn lớp 10

trao-duyen-2
Soạn bài: “Trao duyên” (Trích “Đoạn trường tân thanh” – “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) – văn lớp 10

Câu 1: Anh (chị) có suy nghĩ gì về nhan đề đoạn trích ”Trao duyên” ?

Gợi ý trả lời:

–  Nhan đề của đoạn trích “Trao duyên” là do nhà soạn sách đặt ra nhằm tạo một ấn tượng đặc biệt đối với người đọc, gây cho người đọc nhiều câu hỏi băn khoăn: Tại sao lại đặt nhan đề bằng một cụm từ miêu tả hành động khác thường: “trao duyên” ? Từ xưa đến nay người ta thường sử dụng sự trao đổi đối với những dạng vật chất có định lượng. Tuy nhiên điều có thể thấy rõ là tình yêu thuộc phạm trù ý thức, thiên về tình cảm cá nhân thường hàm chứa bản tính ích kỉ của con người, là cái riêng không thể chia sẻ của mỗi người mà ở đây có thể trao gửi cho người khác thì thật là cảnh tượng kì lạ, hẳn phải có nguyên cớ gì đó đằng sau sự việc này. Cách đặt nhan đề như vậy đã khơi gợi trí tò mò của người đọc đối với nội dung đoạn trích nói riêng và nội dung tác phẩm nói chung.

–  Hơn thế nữa, nhân vật chính trong tác phẩm là nàng Kiều. Với Kiều, mối duyên tình của mình với chàng Kim là một định mệnh, đó lại là một tình yêu đẹp ở sự vượt thoát khỏi lễ giáo phong kiến với quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Vậy mà giờ nàng lại phải đứt ruột trao nó lại cho Thúy Vân. Mặc dù Vân là em gái mà Kiều vô cùng yêu mến nhưng cũng chính điều đó đã khiến cảnh trao duyên trở thành một nghịch cảnh éo le, một bi kịch đầy nước mắt… Với cách đặt nhan đề như vậy, người soạn sách đã giới thiệu được sự việc chính và khơi gợi nỗi niềm tâm trạng của người trong cuộc được thể hiện trong đoạn trích.

 

Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích những bối rối, thẹn thùng, nhưng lại rất khéo léo trong hành động “cậy, lạy, thưa…” của Thúy Kiều khi chuẩn bị trao duyên cho em ?

Gợi ý trả lời:

Khi Thúy Kiều chuẩn bị trao duyên cho em, nàng đã thể hiện tâm trạng đầy bối rối, thẹn thùng nhưng những hành động vẫn đầy sự khéo léo, chân thành:

–  Nàng Kiều là mẫu người con gái thời trung đại giàu lòng hi sinh, luôn quên đi nỗi đau riêng của mình để lo lắng cho mọi người. Trao gửi tình đầu là sự trao gửi đầy nỗi niềm xót xa nhưng Kiều vẫn nghĩ mình đang đưa phần thiệt thòi cho em, mặc em gánh chịu.

–  “Cậy” là nhờ cậy, tin cậy, chị nhờ cậy, tin cậy em, mong em chịu lời, tự rằng buộc Vân vào trách nhiệm. Đồng thời với người được “cậy” cũng khó có thể chối từ. Với hành động cậy, Kiều không chỉ nghĩ cho Thúy Vân mà cho cả Kim Trọng.

–  “Lạy” là hành động Kiểu thực hiện để tạo ra cái không khí thiêng liêng cho cuộc trao duyên, cũng là thể hiện lòng biết ơn khi Kiều hiểu được phần nào sự hi sinh của Vân.

–  “Thưa” là hành động kính cẩn của người dưới dành cho người trên. Đặt vào hoàn cảnh này, Kiều là chị nhưng vẫn “thưa” với em nghĩa là nàng tự đặt mình ở vị trí thấp hơn bởi nàng đang là người nhờ cậy em mình, lại nhờ em một việc không dễ dàng gì nên nàng đã hạ mình xuống để thuyết phục em.

 

Câu 3: Việc Kiều nhắc đến những kỷ niệm của tình yêu có ý nghĩa gì ?

Gợi ý trả lời:

Việc Kim Trọng và Thúy Kiều có lời hẹn ước đêm trăng thì Thúy Vân không hề hay biết. Vì vậy mà Kiều phải kể rõ ngọn nguồn sự việc cho Vân nghe để em có thể hiểu thấu cho hoàn cảnh của mình. Nàng kể tha thiết không hề giấu giếm một chút nào những tình cảm và niềm tin mà hai người đã trao cho nhau từ ngày thề nguyền ấy. Trong khi kể với Thúy Vân, Kiều tưởng như sống lại với những kỷ niệm tình yêu lần cuối cùng trước khi dứt mối duyên này mà trao gửi cho em. Cảnh lần lượt hiện ra theo không gian hồi ức của nàng Kiều:

–  Cảnh cùng chàng Kim tặng nhau quạt để nhỏ ý ước hẹn trăm năm (“khi ngày quạt ước”)

–  Cảnh hai người ngồi uống chén rượu thề để nguyện chung thủy (“khi đêm chén thề”)

–  Cảnh trao nhau những kỉ vật của tình yêu (“Chiếc vành với bức tơ mây”)

Đặc biệt là đến đoạn hồi tưởng đỉnh điểm của nỗi nhớ, Kiều tưởng nhớ lại sự kiện đêm thề nguyền thiêng liêng và từng chi tiết như sống dậy trong lời kể của nàng:

–  Cảnh Kim trọng cho thêm hương vào lò hương (“mảnh hương nguyền”, “đốt lò hương ấy”).

–  Cảnh nàng đàn cho Kim Trọng nghe (“phím đàn”, “so tơ phím này”)

Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Thúy Kiều nói với Thúy Vân mà như nói với chính mình và nói cùng chàng Kim. Những từ ngữ trên cho thấy trong tâm hồn Kiều, những kỷ niệm tình yêu có sức sống mãnh liệt. Tất cả những kỷ niệm về tình yêu được nàng cất giữ cẩn thận. Nàng trao duyên cho Thúy Vân nhưng không thể trao tình là điều tất yếu. Thúy Kiều hy sinh tình yêu của mình, trao duyên cho Thúy Vân nhưng con người lý trí không ngăn được con người tình cảm. Thúy Kiều đã để trái tim mình thuộc về tình yêu, sống với tình yêu. Trong tình yêu, Thúy Kiều là người vô cùng sâu sắc và tinh tế.  Nàng trao cho Thúy Vân những kỷ vật nhưng không thể trao những kỷ niệm của tình yêu. Bi kịch đó khiến Kiều vô cùng đau đớn.

 

Câu 4:  Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đến cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì ?

Gợi ý trả lời:

–  Suốt quá trình trao duyên, Kiều luôn nghĩ đến cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa thể hiện nỗi niềm của nàng Kiều trong hoàn cảnh bi thương. Bên cạnh đó, khi thuyết phục em nhận lời trao duyên, Kiều đã lấy cái chết làm lời ủy thác (“Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”) để Vân không cách nào từ chối được lời di nguyện của người chị.

–  Trao kỉ vật cho Thúy Vân xong, Kiều lại nghĩ đến cái chết. Tiếng khóc than của Thúy Kiều là tiếng nói thương thân xót phận của một người con gái tha thiết với tình yêu và không đươc sống trong tình yêu, nguyện thủy chung với mối tình đầu mà đành chấp nhận “đứt gánh tương tư”, “trâm gãy gương tan”. Cả một đoạn thơ dài hiện lên mảnh hồn oan sau khi chết của Thúy Kiều như một nỗi ám ảnh với các hình ảnh ghê rợn như: “Trông ra ngọn cỏ lá cây / Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”, “hồn”, “dạ đài cách mặt khuất lời”, “Người thác oan”… Thúy Kiều liên tưởng mảnh hồn oan của mình với hồn ma Đạm Tiên và dự cảm cái chết của mình cũng đầy oan nghiệt như của nàng Đạm Tiên.

–  Khi đặt trích đoạn này trong sự liên tưởng đến những sáng tác khác của Nguyễn Du như: “Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn chiêu hồn), “Phản chiêu hồn”, “Độc Tiểu Thanh kí”, ta sẽ nhận thấy một mô-tip nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ ca ông là mô-tip gọi hồn, tri âm cùng người đã khuất. Bằng cách này, nhà nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã vượt qua biên giới của sự sống và cái chết để xót đau cho những kiếp đời bất hạnh, chịu nhiều nỗi oan ức. Sở đĩ có điều này là vì nhà thơ chịu ảnh hưởng của thuyết “luân hồi” trong đạo Phật và niềm tin của ông vào những tâm hồn chịu hàm oan sẽ tìm người giãi bày sẻ chia nỗi đau khổ của mình. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn là nhà thơ luôn quan tâm đến nỗi “kì oan” có nghĩa là nỗi oan kì lạ của con người. Con người chết đi mà không được siêu thoát, những mảnh hồn oan còn vật vờ cõi nhân gian cũng đáng thương hại như thân phận của những người còn sống vậy. Đây là một phương diện độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du.

 

Câu 5: Kiều đối thoại với những ai ? Phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều qua lời đối thoại trong đoạn trích.

Gợi ý trả lời:

–  Trong toàn bộ đoạn trích, về hình thức là lời Kiều nói với Thúy Vân nhưng nếu ta đọc thật kĩ và đi sâu tìm hiểu, ta sẽ nhận thấy nhiều đoạn Kiều như đang phân thân để tự nói với chính mình, cũng có lúc nàng lại như nói với Kim Trọng.

–  Diễn biến tâm trạng của Kiều qua lời đối thoại trong đoạn trích nhờ vậy mà càng trở nên phức tạp và sâu sắc hơn. Việc chuyển đối tượng đối thoại thể niên khả năng nắm bắt một cách tinh tế quy luật diễn biến tâm trạng nhân vật của tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là những lời dặn dò Thúy Vân thì cảm xúc của nhân vật không thể đạt tới cao trào, đoạn trích không thể hiện được bi kịch thân phận và bi kịch tình yêu của nàng Kiều không được đẩy tới đỉnh điểm. Cũng vì thế mà nhân cách cao đẹp của Kiều không có điều kiện bộc lộ rõ.

–  Lời đối thoại của Kiều với Thúy Vân: Nguyễn Du đã để cho Kiều nói bằng ngôn ngữ của lí trí còn rất tỉnh táo. Kiều không để Vân có cơ hội từ chối, cứ sau một câu thăm dò ý của Vân thì Kiều lại viện thêm lí lẽ, lí lẽ nào cũng vừa có tình có lí, trên hết vẫn là tình để thuyết phục được em. Cách nói, lời nói, cử chỉ thiết tha, cầu khẩu như vậy khiến Thúy Vân không thể từ chối.

 

+  Khi ban đầu trò chuyện cùng Thúy Vân, với hai chữ “cậy” và “chịu” cùng cử chỉ “lạy”, Kiều coi việc nhận lời của em là một sự hy sinh và Kiều đã “lạy” sự hi sinh ấy, thiết tha mong em thấu hiểu và giúp đỡ cho mình.

+  Tiếp theo, trong cuộc trò chuyện đó, Thúy Kiều phân tích cho em hiểu về tình cảnh và tình cảm hiện tại khiến nàng không còn cách lựa chọn nào khác. Hoàn cảnh gia đình gặp “Sóng gió bất kì” đặt nàng vào giữa sự lựa chọn bên tình bên hiếu mà không thể vẹn cả đôi bên.

+  Sau đó, Kiều động viên, an ủi em: “Ngày xuân em hãy còn dài” bằng cách so sánh tuổi xuân giữa hai người để cho em thấy sự chấp thuận của em là không uổng phí tuổi xuân.

+  Kiều viện đến tình máu mủ ruột rà: “xót tình máu mủ” để làm sức ép đối với Vân, chuẩn bị cho một công việc mang tình nghĩa sâu nặng: “thay lời nước non” giữa hai người.

+  Cuối cùng, Thúy Kiều lấy cả cái chết của bản thân ra để ủy thác khiến Vân không thể khước từ lời ủy thác của chị: “Chị dù thịt nát xương mòn / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”

–  Lời tự thoại của Kiều với chính mình: Với Kiều, mất tình yêu thề nguyền là mất mát quá lớn đối với nàng mà không gì có thể bù đắp được. Chính vì nỗi đau khổ ấy, nàng đã nghi đến cái chết. Kiều rơi vào bi kịch tình yêu chia lìa đau thương tang tóc. Kiều tự coi mình là kẻ đã chết bởi trao duyên là trao cả trái tim mình thì dù có sống cũng như chết. Nỗi đau trong tâm hồn đến cùng cực, nàng mong với sự trở về của mình dù là dưới dáng dấp của một hồn ma cũng có thể gặp lại Kim Trọng nhưng dường như cả sự trở về ấy cũng không thể an ủi được mà còn khiến nàng càng đau đớn hơn.

+  Tâm trạng của Thúy Kiều phải trải qua những giằng xé mâu thuẫn, đau đớn đặc biệt trong thời khắc trao kỉ vật cho Thúy Vân: “Chiếc vành với bức tờ mây / Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Ở đây, ta có thể nhận thấy điểm mâu thuẫn nằm trong hai chữ “của chung”. Khi đọc tác phẩm mà chưa hiểu rõ, ta tưởng như Kiều nói của em với Kim Trọng nhưng lắng nghe từ trong đau khổ của con tim đang rỉ máu sẽ thấy “của chung” có một phần của Kiều. Về lí trí, Kiều muốn em nên vợ nên chồng. Trái lại, về tình cảm, Kiều không thể nói đoạn tuyệt là đoạn tuyệt hoàn toàn tình cảm của mình dành cho người yêu. Kỉ vật là hiện thân của mối tình thề nguyền sắt son, chung thủy. Với Thúy Kiều, nó chỉ không chỉ là kỉ vật tình yêu đầu đời, cầm kỉ vật là kỉ niệm sống dậy trong tâm trí mà đối với nàng, kỉ vật còn nhắc nhớ về hoàn cảnh bi kịch nàng đang gặp phải, kỉ vật hiện diện ở đó nhưng mối tình đành trao gửi cho em, kỉ vật chỉ càng gợi nỗi xót xa, đau khổ hơn trong lòng người con gái đang yêu.

–  Lời đối thoại của Kiều với Kim Trọng: Tám câu cuối của đoạn trích, Kiều quay sang tâm sự với Kim Trọng trong tưởng tượng mà bỏ quên mất rằng ở đó còn có em gái của mình. Lời tâm sự chứa đầy mâu thuẫn, đối lập giữa khát vọng tình yêu mãnh liệt và hiện thực phũ phàng. Khát vọng là “kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” còn hiện thực là “trâm gãy gương tan”, là “tơ duyên ngắn ngủi”, là “phận bạc như vôi”. Cuối cùng, tất cả nỗi niềm đau đớn tan nát của hiện thực đã trùm lên khát vọng. Đặc biệt là ở hai câu thơ cuối đoạn trích:

“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

Hai dòng thơ với cách sử dụng dấu cảm và lời hô gọi vang vọng ra xa đã gợi lên cảm giác tuyệt vọng của Kiều đối với Kim Trọng. Cuối cùng, Kiều ngất đi trong hình bóng bao trùm của chàng Kim.

 

Câu 6: Nhận xét về mối quan hệ giữa quan hệ tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều qua đoạn trích

Gợi ý trả lời:

Đoạn trích là những dòng thơ chứa đựng mối quan hệ giữa quan hệ tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều. Tình cảnh  lâm li, tình cảm đau đớn bậc nhất trong “Truyện Kiều” biểu hiện trong bi kịch tình yêu tan vỡ mà thực chất là bi kịch của một số phận bất hạnh chịu nhiều bất công trong xã hội. Sự hi sinh của Kiều khiến nàng trở nên cao thượng, dám hi sinh tình riêng vì tròn vẹn chữ “hiếu” với cha. Nỗi đau đớn xót xa của nàng lại cho thấy cái giá của sự hi sinh đó là quá lớn trong khi nàng còn đang tuổi xuân thì, đang trong mối tình duyên đẹp như mộng ước bấy lâu. Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiểu đã được Nguyễn Du thể hiện một cách sâu sắc, tinh tế qua tình cảnh mặc dù Kiều yêu Kim Trọng tha thiết nhưng vì chữ “hiếu”, nàng buộc phải chọn và nàng đã hi sinh vì tình yêu.

–  Về lí trí, Kiều nhận thức được sự cần thiết của việc trao duyên cho Thúy Vân.

–  Tuy nhiên, về tình cảm, nàng yêu với tình yêu sâu sắc, mãnh liệt đến mức không muốn trao gửi mối duyên tình cho ai khác, kể cả là người thân yêu của mình.

–  Kiều phải cố gắng thuyết phục bằng mọi cách để Thúy Vân nhận lời, đây là hành động của lý trí tỉnh táo.

–  Nhưng đồng thời, Kiều vẫn không sao ngăn được nỗi thổn thức, đau đớn, Kiều sẽ thanh thản về lí trí nhưng trái tim thì tan nát khi trao đi kỉ niệm và kỉ vật của mình.

–  Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm thực chất chính là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức thời phong kiến với tâm hồn con người, mâu thuẫn giữa chữ “hiếu” với chữ “tình”. Với Thúy Kiều, cả lí trí và tinh cảm đều sâu nặng và góp phần tạo nên nhân cách cao đẹp của nàng. Đó là một nhân cách trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng, biết cảm thông sâu sắc.

Loading...